Thánh ngôn

CHỨNG NGỘ PHẬT TÂM

Phần 3 của Thiền vị trên đầu lưỡi – Takasshina Rosen - Bạch Ẩn Thiền định ca - Hạnh Huệ và Thuần Bạch dịch

25/03/2017
Đức phật muốn chỉ dạy điều gì? Sự khôn ngoan? Sự hiểu biết đa văn lỗi lạc? Mục đích của ngài là khuyến khích đọc kinh điển? hoặc khổ hạnh, nghiêm giới luật? Thực tế, tất cả đều chẳng phải. Ngài chỉ muốn dạy cho tất cả chúng sanh làm thế nào để làm chủ thân tâm. Phương pháp để thực hiện được điều trên, được nói đến trong quyển luận về thiền, tên là Tọa Thiền Nghi: “Suy nghĩ điều không thể nghĩ bàn (Phi tư lương xứ thường tư lương). Làm sao để suy nghĩ điều không thể nghĩ bàn? Vô niệm, đó là bí quyết của thiền định”.

Vô niêm là đối tượng của thiền, làm chủ thân tâm chỉ là phương pháp để đạt đến. Khi làm chủ thân và tâm từ sự vắng bặt tư tưởng, tự nhiên bộc phát sự hiểu biết sáng suốt, Phật huệ viên mãn, trong đó có cả đọc kinh và cầu nguyện, khổ hạnh và nghiêm trì giới luật. Có vài người hấp tấp cho rằng đọc tụng kinh điển, cầu nguyện, khổ hạnh tự có giá trị, nhưng đây không phải là truyền thông được truyền từ thiền sư Đạo Nguyên.

Vắng bặt tư tưởng là gì? Cuộc sống chánh định của tất cả chư Phật không khác hơn trạng thái vắng bặt tư tưởng. Theo nghĩa đen, có thể hiện trạng thái này như cây khô, cục đá, nhưng không phải thế, không thể hiểu bằng ý thức thông thường, nhưng cũng không thể hiểu bằng vô thức. Chúng ta chỉ có thể thấu đạt trạng thái ấy qua sự tự chứng nghiệm.

Những người sơ cơ, lần đầu tiên nghe nói bí quyết thiền là vô niệm, không thể đạt bằng ý thức hoặc vô thức, rốt cuộc không thể hiểu nỗi điều đó là gì và bị hoang mang. Bây giờ thay vì tự hỏi làm sao đạt được hoặc có gắng tìm hiểu, phân tích, điều cốt yếu là chúng ta phải cương quyết lao mình cho đến chết, từ bỏ thân xác và cuộc đời, nghĩa là cắt đứt tận cội rễ tất cả những ý tưởng phân biệt. Nếu chúng ta tiếp tục cắt đứt ý tưởng tận căn đế, thì sự giải thoát khỏi tư tưởng sẽ đến, thực tại nguyên thể của chúng ta xuất hiện và đây gọi là ngộ. Cổ đức có nói: “Trong thiền điều quan trọng là dừng được dòng tâm thức”. Nghĩa là dừng lại những tạo tát của ý thức thường niệm, luồng tư tưởng, ý niệm và nhận thức. Đại sư Đạo Nguyên nói: “Hãy cắt đứt tư tưởng bằng sức mạnh của thiền định, chỉ bằng cách này ta mới có thể đạt đạo”. Đạt đạo là chứng ngộ tâm Phật, tức là chân tánh trong mỗi chúng ta. Ánh sáng của Phật tâm từ chính ta tuôn ra, lòng từ mẫn của Phật tỏa ra từ Phật tâm trong ta. Chúng ta nhận ra rằng sự trang nghiêm Phật độ cũng là sự trang nghiêm của tự tâm.

Thuyết về nghiệp quả là một khía cạnh của Phật giáo. Theo thuyết này tất cả mọi hiện tượng thế gian nhận thức được đều do kết quả tương xứng với nguyên nhân là ý nghĩ, ngôn ngữ và hành động đã qua của mỗi chúng ta và của cả chúng sanh. Quả thật tất cả hiện tượng thế gian được thể nghiệm phù hợp với nghiệp của chúng ta. Ba hình thức của nghiệp chính là thân hành, khẩu hành và ý hành, tất cả đều đặt dưới sự lãnh đạo của tâm. Dù cho tâm này là tâm của Phật hoặc không phải tâm Phật, cũng là nguyên nhân xác định thiện ác cho chúng ta. Và nếu chúng ta chỉ biết kiềm chế bản ngã của mình mà không cắt đứt tư tưởng thì Phật tâm không hiển lộ.

Điều khó khăn thật sự của thiền định là làm thế nào để dừng bặt dòng tâm thức và làm sao để cắt đứt tư tưởng. Cách đây trên 2500 năm tại Câu-thi-na ở Ấn Độ, đấng Thế Tôn, Phật Thích Ca khi sắp nhập diệt, trong bài thuyết pháp cuối cùng cho hàng môn đệ., câu chót ngài dạy về Tâm thức là: “Các ông phải điều phục tâm”. Tâm đó không phải là Phật tâm, mà là tâm vị kỷ của phàm phu thường sống hàng ngày. Có gì luôn thay đổi bằng tâm chúng sanh? Mới vừa vui cười đã buồn ngay đó, rồi lại giận dữ vì một nguyên cớ nào đó. Khi thì muốn ăn, lúc muốn ngủ, lúc cầu nguyện, lúc báng bổ. Trong cái gọi là nhiều chuyện của đàn bà, vọng tâm biến thành miệng lưỡi ồn ào. Hơn nữa, điều này cũng chưa đến nỗi tệ nếu không làm phát sinh những việc khủng khiếp: trôm cắp hoặc giết hại. Tất cả đều biến chuyển từ tâm vị kỷ. Đó là lý do mà theo Duy thức học Phật giáo, tất cả mọi biến chuyển đều được gọi là thức biến.

Vì dù tự tâm là thiện hay là ác, một số người cho là thiện, một số người cho là ác, và cũng có quan điểm trung dung của người xưa cho là không thiện cũng không ác. Dù sao đi nữa điều rõ ràng là tâm của chúng ta từ sáng đến chiều đều hoạt động không ngừng, trải qua hàng ngàn hàng triệu biến dịch giữa thiện và ác. Lý trí và đạo đức dạy chúng ta dè dặt, không đi vào đường ác, mà phấn đấu để giữ cuộc sống chúng ta được hiền thiện. Một thi nhân thời xưa đã hát rằng:
Khi anh cảm thấy bị lội cuốn
Chớ nên thả lỏng dây cương của tâm
Để khỏi rơi vào ác đạo
Trong nồi nấu của thế gian
Hãy nấu cho ngon, đừng nấy dở
Tâm con người là vá quậy tự do

Tùy theo cái vá tự do lên xuống thế nào mà thức ăn thành ngon hay dở. Tâm con người cũng thế, căn bản là tự do. Ở mỗi thời khắc cần nhớ đến thiện đạo, nhưng thiền không nói đến đạo đức theo lối này, ở đây chỉ là vấn đề về tâm Phật giúp chúng ta một bước nhảy vọt, chấm dứt dòng tâm thức, cắt đứt tư tưởng. Tóm lại, chúng ta cắt đứt sự tạo tác của tâm., tức bản ngã đã phát sinh nết xấu.

Phật giáo dạy rằng tâm chúng sinh có hai mặt: thanh tịnh và ô nhiễm, nhưng tự nó không phải là hai mà được phân hai, tùy theo sự tạo tác của chính nó. Tâm tịnh là tâm tịnh của tự tánh. Bản tâm của chúng ta không khác mảy may với tâm Phật. Ngược lại tâm ô nhiễm gây bất an cho chúng ta từ sáng đến chiều, đó là tâm vị kỷ, mê lầm tham đắm. Bởi vì lòng ích kỷ, tâm tham đắm không phải là bản hữu, chúng ta luôn luôn đau đớn và phiền não. Tâm này bất chấp không ngừng dẫn ta đi lạc hướng.

Chân tâm chân tánh của chúng ta vốn thanh tịnh và vô tận, như trăng sáng giữa trời trong. Từ vô thủy, tâm bị ô nhiệm bởi tham dục và trở nên bất tịnh. Đó không phải là tự tâm chân thật của chúng ta mà là cái đến sau. Cái đến sau này lại chiếm ưu thế và che mờ chân tâm, tợ như người vợ lẽ lấn áp người vợ chính thức. Ta thường đọc trên báo rằng người quản lý một tài sản lớn hoặc giám đốc một hãng xưởng lớn, lắm khi qua mặt vị chủ nhân, lấy tiền bỏ túi riêng, đưa đến khánh tận sự nghiệp. Cũng thế, chúng ta giao phó chính mình cho sự vận hành của tâm mê vọng và tham đắm, đến nỗi chủ nhân thật sự, tức Phật tâm, không thể lộ diện. Tư tưởng của tâm bất tịnh là hỗn loạn, vì thực tại bị nhìn đảo ngược. Kẻ hung ác hành động như những người hơp tác chủ chốt của mê vọng được đức Phật gọi là “ngũ tặc”. Ngũ tặc chính là mắt, tai, mũi, lưỡi và thân, thu nhận tất cả những đối tượng hấp dẫn và đưa chúng đến tâm bất tịnh để thỏa mãn. Vì lý do trên ngũ tặc được gọi là căn. Căn có nghĩa là gốc rễ của cây đưa nhựa đến cành lá để thỏa mãn nhu cầu của chúng. Dĩ nhiên sự vận hành nguy hại của năm giác quan không phải là bản nhiên. Chức năng thật của giác quan thì không sai lầm, nhưng tâm bất tịnh đã dùng lầm để chúng tạo tác theo chiều hướng sai lạc… Trong bài thuyết pháp cuối cùng của đức Phật có câu: “Ngũ tặc đã xem tâm bất tịnh như là chủ. Như thế, nết xấu của tâm bất tịnh giống như một con rắn độc hay ác thú đoạt mất sự sống, lý đáng đưa đến Phật quả (tức chơn tánh) của chúng ta. Trong lòng chúng ta có con rắn độc cuộn tròn luôn luôn phun lửa tam độc, mang phiền não và đau khổ đến chúng ta. Trừ diệt tâm bất tịnh hiểm độc và làm cho ánh sáng thanh tịnh chiếu rọi từ tâm thanh tịnh bên trong chúng ta, thì ngũ thức sẽ bị cắt đứt, và vì thế nên nói rằng chúng ta cắt đứt tư tưởng. Chúng ta phải làm thế nào? Có những phương pháp khác nhau, nhưng phương pháp tọa thiền là ngồi tư thế thiền định và dồn hơi thở cũng sức sống của chúng ta vào đan điền ( phần bụng dưới rốn ). Trong lối này sức khỏe toàn bộ con người được tăng cường. Rồi chúng ta thiền định, buông bỏ thân và tâm. Bấy giờ những vọng tưởng là tâm bất tịnh nhảy ra không ngừng. Chúng ta phải theo dõi những vọng tưởng này, cái nọ nối tiếp cái kia, xem đó là công án thiền định của chúng ta. Rốt cuộc, vọng niệm này là cái gì? Nó từ đâu đến? Với mũi giáo thiền định chúng ta đâm thẳng vào tận ngọn nguồn của dòng vọng tưởng tương tục.

Khi chúng ta tọa thiền một cách đều đặn thì có tiến bộ trong thiền định, rồi thiền định tự trở thành thâm sâu và toàn mãn cho tới khi không còn chỗ cho vọng tưởng ló đầu. Tọa thiền hoàn toàn không bị hạn chế, và sự bước vào thực chứng cũng không hạn cuộc, cuối cùng ánh sáng của chân ngã xuất hiện, nơi mà thực hành chính là chứng ngộ. Đây gọi là nhìn thấy chân diện mục, và có thể bảo 9 trong 10 người có thể đạt đến ( ngay trong đời sống này).

Tọa thiền như đã mô tả không có gì là mơ hồ, nhưng vì dễ dàng nên thường bị lầm lẫn, và tất cả những bậc lão sư đều phải kinh qua một thời gian vất vả. Có nhiều châm ngôn về khó khăn này: “Sau khi chiến thắng trăm trận, bây giờ tôi lão thành trong đại bình an”. Hoặc “Có biết bao lần tôi phải vào hang rồng xanh nơi chôn giống kho báu vì lợi lạc cho người?”.

Có một phương pháp khác. Trước tiên cũng cùng đường lối là dồn hết khí lực toàn thân, chúng ta vật lộn với công án từ vị thầy trao cho, như “không” của ngài Triệu Châu, “cây bách trước sân”, “chân diện mục”, “tiếng vỗ của một bàn tay”. Bất cử công án nào cũng được, vấn đề là tham công án để thực hành thiền định với tất cả nỗ lực của ý chí, nhất tâm và không tán loạn. Nếu có một mảy may sơ xuất nào trong pháp thiền này, sẽ thất bại hoàn toàn. Giả thử chúng ta đang tham công áo về “tiếng vỗ của một bàn tay”, chúng ta cố gắng tìm hiểu bằng ý thức phân biệt, nhưng sẽ không bao giờ hiểu được. Chúng ta có thể nghĩ là chúng ta đã hiểu, nhưng sự hiểu đó cũng không hơn gì một sự hiểu biết bằng tâm phân biệt ô nhiễm, đã nghĩ là “tôi” và “của tôi” và “tôi hiểu”.

Thiền định có nghĩa là cắt đứt ngay tại cội rễ tâm thức đã nghĩ là “tôi hiểu”. Và có nghĩa là đi vào trạng thái không ô nhiễm phân biệt. Người bằng lòng ở giai đoạn hiểu biết bằng tri thức thì còn cách xa cứu cánh thiền. Chúng ta được bảo hãy nghe tiếng vỗ của một bàn tay, nhưng một bàn tay không thể tạo nên âm thanh, và sự phán đoán hay phân tích rành mạch không thể hiểu thấu được. Điều thiết yếu là toàn thể thân tâm phải thu hút vào trong công án và không một niệm nào khác được nổi lên, sao cho không những trong thời gian tọa thiền mà ngay cả khi đi, đứng, nằm, ngồi, tham thiền vẫn tiếp tục không đứt đoạn. Rồi năng lực của thiền định hoát nhiên thuần thục. Hòa thượng Linh Nguyên thấy hoa đào và thiền sư Hương Nghiêm lúc nghe tiếng sỏi trong bụi tre mà giác ngộ. nghiệp quả của chúng ta có thể lập tức tiêu tan, đất trời tách mở trong một sát-na, như thể một cái cống bị tháo mở, thình lình chúng ta đạt đến an lạc và sự sống vô lượng vô biên.

Đó là sự chứng ngộ của các thiền sư thời xưa. Luận Tọa thiền nghi nói: “Buông bỏ thân tâm, bản lai diện mục sẽ hiện rõ”. Nhưng trong sự chú tâm không được có một chút lơi lỏng nào, chỉ cần một gợn sóng nhẹ thì nghiệp quả sẽ không tiêu ngay trong khoảnh khắc tâm lý này, và rồi cũng không hơn gì trường hợp người chết.

Ta chỉ cần thâm nhập trọn vẹn vào một công án. Đại ngộ[1] chỉ đến một lần mà thôi, nếu có sự lặp lại thì không phải là triệt ngộ. Dĩ nhiên không có mâu thuẫn đối với một người tham cứu 1700 công án hiện có trong chiều hướng cố thử năng lực quán sát của chân tánh. Nhưng điều ấy không có nghĩa là người đó phải giải nghiệm nhiều hơn một lần để đạt ngộ. Nếu trong tình trạng đã diễn tả, ta vẫn nỗ lực với niềm tin nhiệt thành, hiến tất cả năng lực của mình vào thiền định, thì chắc chắn một cách tuyệt đối là sẽ có lúc ta bước chân vào cuộc sống chánh định của tất cả chư Phật. Phương pháp công án được gọi là thiền “đợi ngộ”.

Trong thiền Tào Động, chứng ngộ ngay khi thực hành, chúng ta thiền định theo đúng như chính đực Phật đã hành, và không có vấn đề vật lộn với công án và đợi ngộ. Chúng ta phải thấu hiểu giá trị của sự thực hành tọa thiền đúng đắn này, đó là điều quan trọng nhất trong sự luyện tập tâm linh dẫn đến cứu cánh đích thật của chúng ta, chính là làm hiển lộ Phật quang từ nhân tính của chúng ta. Nếu thành tựu thì tự nhiên qua tâm Phật, bản chất con người được thăng hoa. Ở đây không phân biệt giữa sáng và tối, khôn ngoan hay đần đôn. Một sự thật là bất cứ ai nếu tự hiến tất cả tâm hồn cho thiền định không lay chuyển, thì sẽ đạt đến tâm thái tối thượng.