13 phẩm Trung luận

13 PHẨM TRUNG QUÁN LUẬN (11)

Phẩm PHÁ BUỘC MỞ

03/04/2017

PHÁ BUỘC M

Giải thích sơ toàn phẩm

Với người tu Pht, khi vượt qua được hành m, xem như chấm dt được ‘Phn đoạn sanh t’ ca chúng sanh và gi là ‘gii thoát’. Vì vy nói đến ‘trói buc’ là nói đến ‘sanh t’. Nói đến ‘sanh t’ là nói đến ‘hành’ và ‘chúng sanh’. Hành là ch cho s lưu chuyển. Chúng sanh là ch cho tt c, trừ Pht. Đây là lý do vì sao các từ HÀNH, CHÚNG SANH được đề cp trong phm này.

Thực ra, không có sanh t trói buc để ra, cũng không có niết bàn gii thoát để vào. Chng qua ch do MÊ và NG mà thy có trói buc, có gii thoát. Mê nên thy cõi này cõi kia. Ngộ thì biết “Tam gii duy tâm, vn pháp duy thc”, không hđi đứng ti lui. Thin sư Hàm Thị nói “Do tâm không có mé trước, phàm có hin ra đều bi mê mà sanh. Thc không có duyên sau, chđược tướng ban đầu thì thy đồng huyn hóa”.

ng như những phm khác, Lun ch s lun để ta thy s bt hp lý khi cho SANH T, HÀNH và CHÚNG SANH là thc có.

LUẬN GII TOÀN PHM

諸行往來者
Nếu các hành qua li
常不應往來
Thường không th qua li
無常亦不應
Vô thường cũng không th
眾生亦復然
Chúng sanh cũng như vậy (1)

Luận để thy HÀNH và CHÚNG SANH “không thường cũng không vô thường”.

QUA LẠI là ch cho s sanh dit ni tiếp ca hành và chúng sanh. Nếu vn pháp thường thì không có dit, để có sanh mà nói qua li. Nếu vn pháp vô thường, tc khi dit là mt hn, cũng không có sự ni tiếp ca hành và chúng sanh.    

若眾生往來
Nếu chúng sanh qua li
陰界諸入中
Trong ấm gii các nhp
五種求盡無
Năm thứ tìm đều không
誰有往來者
Vậy ai có qua li? (2)

M là 5 m : Sc, th, tưởng, hành, thc.

GIỚI là 18 gii : 6 căn, 6 trần, 6 thức.

NHẬP là 12 nhp : 6 căn và 6 trần.

NĂM THỨ : Lìa m gii nhp có chúng sanh. Lìa chúng sanh có m gii nhp. Trong m gii nhp có chúng sanh. Trong chúng sanh có m gii nhp. m gii nhp là chúng sanh. 5 trường hp này là nhng chp thđược ghi trong kinh điển Tiu tha. Pht nói 5 thy không. Đã không thì cũng không có chúng sanh để nói là qua li trong sanh t.

若從身至身
Nếu t thân đến thân
往來即無身
Qua lại tc không thân
若其無有身
Nếu có thân không thân
則無有往來
Thì không có qua lại (3)

Nếu có chúng sanh qua li trong sanh t thì thân nó lưu chuyển ra sao?

NẾU T THÂN ĐẾN THÂN : Nếu có s lưu chuyển trong sanh t, thì thân sau là nhân duyên ca thân trước. Hình thành theo quan h Nhân duyên nên tánh chúng là không, tc sanh mà vô sanh, thân mà không thân, nên nói QUA LẠI TC KHÔNG THÂN.

NẾU CÓ THÂN, là cho thân này có, tc thân này có t tánh. Có t tánh thì thường. Thường, thì không có thân sau, tc không có s lưu chuyển sanh t.

NẾU KHÔNG CÓ THÂN : Đương nhiên không có sự lưu chuyển sanh tử.

Trong cả hai trường hp đều không có sanh t, nên nói THÌ KHÔNG CÓ QUA LI.    

諸行若滅者
Các hành nếu có dit
是事終不然
Việ
c y là không đúng
眾生若滅者
Chúng sanh nếu có dit
是事亦不然
Việ
c y cũng không đúng (4)

Cho HÀNH và CHÚNG SANH có diệt là không đúng. Đây phá cái chấp niết bàn ca hàng La-hán.

Thực tánh ca HÀNH và CHÚNG SANH là ‘sanh mà vô sanh’. Vô sanh thì vô dit. Vô dit là ‘dit mà vô dit’. Cho nên, nếu nói hành và chúng sanh dit mà cho cái dit này là có, tức cho cái dit đó là cứu cánh, thì VIC Y LÀ KHÔNG ĐÚNG. Nghĩa là, cái dit mà hàng La-hán chng dược ch mi là hóa thành, chưa phải bo s.

諸行生滅相                 
Các hành tướ
ng sanh dit
不縛亦不解
Không buộ
c cũng không m
眾生如先說
Chúng sanh như trướ
c nói
不縛亦不解
Không buộ
c cũng không m (5)

Nêu bày thực tướng ca HÀNH cũng như của VN PHÁP trong đó có buộc và m. KHÔNG BUC CŨNG KHÔNG M là mt dng ca BÁT BT.

若身名為縛
Nế
u thân gi là buc
有身則不縛
Có thân thì không buộ
c
無身亦不縛
Không thân cũ
ng không buc
於何而有縛
Sao mà nói có buộ
c? (6)

Luận để hiu vì sao nói ‘không buc’.

Đưa ra KHÔNG THÂN và CÓ THÂN, vì nếu có s trói buc thì ch có hai trường hp để xét:

. Nếu có thân thì thân này có t tánh, tc s trói buc là thường. Trói buc là thường, thì không có gii thoát. Thc tế thì có gii thoát. Nên mt khi nói có thân, thì biết là không có thân. Không có thân thì không có buc. Nên nói CÓ THÂN THÌ KHÔNG BUC.

. Nếu không thân, thì cũng không có buc, nên nói KHÔNG THÂN CŨNG KHÔNG BUC.

Trong cả hai trường hp đều không tìm thy có buc, nên nói SAO MÀ NÓI CÓ BUC?

若可縛先縛
Nếu b buc trước buc
則應縛可縛
t nên nói có buc
而先實無縛
Mà trước thc không buc
餘如去來答
Còn lại ‘Đến - Đi’ đáp (7)

Phá sự trói buc mt khía cnh khác.

Nói đến trói buộc thì phi có cái BUC và cái B BUC. Như nói buộc gà thì có s buc và cái b buc là gà. Nếu cho s buc là thc, thì s buc này có t tánh. Tính cht ca t tánh là độc lp. Độc lp thì S BUC có th có trước, có sau hoc có đồng thi vi B BUỘC. Thực tế thì B BUC không th có trước S BUC. Vì thế biết s buc không có t tánh. ĐẾN - ĐI là chỉ cho phm Phá Đi Đến. Phn này phm Phá Đi Đến không ch phá mt trường hp như đây, mà còn phá thêm nhiều trường hp khác, nên nói CÒN LI ĐẾN ĐI ĐÁP.

縛者無有解
Buộc y không có m
無縛亦無解
Không buộc cũng không m
縛時有解者
Khi buộc li có m
縛解則一時
Buộc mt mt lúc          (8)

Đây nêu bày BUỘC và M không phi là pháp có t tánh, nhm phá b cái M.

BUỘC là ch cho s trói buc, M là ch cho s gii thoát. Trong c hai trường hp CÓ BUC hay KHÔNG BUC đều không có m. Vì : Nếu BUC có t tánh thì BUC này thường. Thường thì không bao gi có M, nên nói BUC Y KHÔNG CÓ M. Nếu KHÔNG BUC thì cũng không có gì để M, nên nói KHÔNG BUC CŨNG KHÔNG M.

KHI BUỘC LI CÓ M là ch cho trường hp ‘va buc va m’. Nếu đều có t tánh mà trái nhau, thì không th xy ra cùng lúc. Nên cũng không có m.

Trong mọi trường hp đều không tìm thy m và buc đi với nhau khi cho chúng có thc tánh.

若不受諸法
Nếu chng th chư pháp
我當得涅槃
Ta sẽđạt niết bàn
若人如是者
Nếu người nói như vậy
還為受所縛
Lại l thuc bi th(9)

THỌ nói đây là ‘thọ nhn’. Nếu không th các pháp thì đạt niết bàn. Nhưng cái ‘không thọy là do mình đang thọ nhn câu ‘Nếu chng th …’ nên nói LI L THUC BI TH.

Kiến chp là đầu mi ca mi trói buc. Còn kiến chp là còn th, còn th là còn trói buc. Chp CÓ thì b CÓ trói. Chp KHÔNG thì b KHÔNG trói. Chp sanh t thì b sanh t trói. Chấp niết bàn thì b niết bàn trói. Vì sao? Vì cái CHP đó là giới hn trói buc mình.

Như việc buông vng nim chng hn. Mình ly vic ‘tâm không có vng nim’ làm mc đích của đời tu. Mc đích ấy hoàn toàn chính đáng. Nhưng nếu chp vào đó thì phiền não sẽ xut hin. Vì mt khi đã chấp, thì mình s có thái độ lưu giữ trng thái không nim ca tâm. Vì thế, khi không có nim thì yên, mà có nim thì mình đâm hoảng hay bc. Cái hong hay bc đó là dấu hiu cho thy phin não đang trói buộc mình. Đây là do chấp vic “Tâm phi vô nim” mà sinh chuyn.

Nếu không có thái độ chp th, thì khi không nim tt đã đành, mà có niệm cũng vn tt. Có nim thì buông, không có gì để phin não. Buông là vic mình có th làm và làm rt tt. Nhưng hết nim hay không là việc của nó. Mình không th tính, cũng không th gi cho nó không, khi mà gc r nó còn đó. Nắm cái không th nm, mun cái không th mun, là đầu mi ca mi kh não và trói buc. Đều do chp mà ra.

Giải theo 9 tướng bt giác ca lun Đại Tha Khi Tín thì một khi chưa nhận ra được tính huyn mng ca vn pháp - trong đó có thế gian và niết bàn - thì vn chưa qua được trí phân bit, là tướng đầu ca lc thô, nên vn b s sanh dit vi tế ca tâm chi phi. Nghĩa là, mình vn còn b s th nhn vi tế : Th nhận cảnh gii niết bàn. Cho nên, trong vic tu hành, cái chính là phi tr cho hết chp. Hết chp thì dù đang trong sanh tử vn là gii thoát. Kinh Duy Ma nói “B-tát tr chp chng tr s” là vy.

不離於生死
Chẳng lìa nơi sanh tử
而別有涅槃
Mà riêng có niết bàn
實相義如是
Thực tướng nghĩa như vậy
云何有分別
Vì sao có phân biệt? (10)

Thế gian ba cõi đều là pháp duyên khi không tánh. Không tánh nên không, không thì không th th, không thy là niết bàn. TH nói đây tương đương với t CHP đã nói trên, đều mang nghĩa ‘ôm gi’. Chúng sanh và Pht, sanh t và niết bàn, trói buc và gii thoát đều nhơn nơi mê và ngộ. Lc T nói “Nim trước mê là chúng sanh. Nim sau giác là Pht”. Chúng sanh thì trói buc. Pht thì gii thoát. Mê thì thy có tướng sai bit. Ng thì biết một th không hai. Ngay thế gian mà không tr trước pháp thế gian, chính là niết bàn. Không phi có mt niết bàn nào ngoài sanh tđể trú n.