Căn bản

BẰNG CHỨNG CÓ THÂN TRUNG ẤM TRONG KINH LUẬN

Thầy Chúc Phú - Báo Giác Ngộ

25/03/2017



Trong bài viết “Có 49 ngày và thân trung m không?” đăng trên trang huyenkhongsonthuong.net và ở trang thuvienhoasen.org, tác giả Minh Đức Triều Tâm Ảnh đã cho rằng không có thân trung ấm.

Trên tinh thần đối thoại và cầu thị, bằng tư liệu kinh văn của cả hai truyền thống (Hán Tạng và Nikāya), chúng tôi nghiêm túc khẳng định rằng có thân trung ấm.

Theo khảo cứu của chúng tôi, nội dung về thân trung ấm, và nghĩa tương đương của khái niệm này, đã được Đức Phật chỉ rõ trong nhiều bản kinh. Chuyên khảo sau đây sẽ làm sáng tỏ việc đó.

Những bằng chứng xác thực về thân trung ấm trong kinh điển
Theo kinh tạng Nikāya, thân trung ấm có nhiều tên gọi như hương ấm, trung ấm (Gandhabba), chúng sinh chờ thọ sanh (Sambhavesī). Theo kinh điển Hán tạng, thân trung ấm nhằm chỉ cho thc thân ca con người trong khong thi gian t sau khi chết đến lúc được đầu thai kiếp sau[1]

Về tư liệu Nikāya, từ Gandhabba đượcTừđiển Phật học nhân xưng Pāli (Buddhist Dictionary of Pāli Proper Names) giải thích: “Gandhabba ởđây mang nghĩa tatrūpakasatta - tasmim okāse nibbattanako satto, tức là một chúng sinh thích hợp và sẵn sàng được sinh ra với cha mẹ có nhân duyên với chúng sinh ấy. Các tác phẩm chú giải thường viết tắt từ này là gantabba[2].

Kế đến, từ Sambhavesī,được tựđiển Pāli của ngài A.P. Buddhadatta Mahāthera giải thích là “one who is seeking birth[3], cụm từ Sambhavesīđược các nhà dịch kinh điển Pāli như Rhys Davids dịch là “(being)… that seek to become”, Tỳ-kheo Thanissaro dịch là “(being)… search of a place to be born”. Cụm từ Sambhavesīđược Hòa thượng Bửu Chơn trong từđiển Pāli-Việt dịch là“Người đang tìm nơi thọ sinh”. Chữ “người”được sử dụng ởđây tương đương với nghĩa chúng sinh vàđang đi tìm nơi thọ sinh, tức là một chúng sinh trung gian. Ở nghĩa này Sambhavesī tương đương với “thân trung ấm”.

Từ những gợi mở làm cơ sở ban đầu này, chúng tôi đã khảo sát kinh tạng Nikāya, nhằm tìm kiếm những bài kinh có liên quan đến thân trung ấm.

1/ Trong kinh tạng Nikāya

KINH TRUNG BỘ
Trong Đại kinh Đoạn Tận Ái số 38, Đức Phật đã xác quyết rằng: “Này các T-kheo, khi nào cha m có giao hp, và người m trong thi có th th thai, và hương m (Gandhabba) có hin tin, có ba s hòa hp như vy, thì bào thai mi thành hình[4]”. Đây là bằng chứng thứ nhất.

Trong kinh Assalāyana s 93, khi mô tảđoạn hội thoại giữa ẩn sĩ Asiata Devala cùng với bảy vịẩn sĩ Bà-la-môn, sự hiện diện của thân trung ấm hết sức rõ ràng:

- Chư Tôn gi, chư Tôn gi có biết nhp thai là như thế nào?

- Thưa Tôn gi, chúng con biết nhp thai như thế này. đây, m cha phi giao hp, người m phi trong thi (có th th sanh), hương m (gandhabha) phi hin hu, ba s như vy có hòa hp, nhp thai mi thành tu.

- Chư Tôn gi, chư Tôn gi có biết hương m y là Khattiya, hay Bà-la-môn, hay Vessa, hay Sudda?

- Thưa Tôn gi, chúng tôi không biết hương m y là Khattiya, hay Bà-la-môn, hay Vessa, hay Sudda[5].

Đoạn kinh này cho thấy, đã có sự tồn tại của thân trung ấm mà với mắt thường của mình, bảy vị Bà-la-môn không thể phân định rạch ròi sự khác biệt về hương ấm của bốn giai cấp.

Bản kinh Kinh Assalāyana số 93này, với tên gọi là Kinh Chưởng Mã Tc(掌馬族經)[6] hay là Āśvalāyanasūtra (Phạn bản)[7], là một cơ sở lý luận quan trọng trong tác phẩm Câu-xá-luận, nhằm chứng minh có thân trung ấm. LunThành Tht quyển 3 cũng dùng bản kinh này để chứng minh có thân trung ấm, với tên gọi là kinh A-thâu-la-da-na[8]. Tư liệu về bản kinh kinh Assalāyana số 93 trong kinh Trung Bộ là bằng chứng thứ hai.

Kinh Chánh tri kiến s 9 (Sammāditthi sutta), là một bài kinh do tôn giả Xá-lợi-phất thuyết giảng về giáo lý Thập nhị duyên sinh. Tư liệu về thân trung ấm liên quan đến một loại chúng sinh chuẩn bịđược sinh ra (sambhavesīna). Kinh ghi: “Chư Hiền, có bốn loại thức ăn này, khiến các loài chúng sinh đã sinh được an trú hay các loài hữu tình sẽ sinh được hỗ trợ cho sinh”. Nguyên bản Pāli là “Cattāro me āvuso āhārā bhūtāna vā sattānahitiyā sambhavesīna vā anuggahāya”.Đây là bằng chứng thứ ba[9].

KINH TƯƠNG ƯNG
Trong Kinh Tương Ưng, khi bàn về các loại thức ăn giúp cho chúng sinh tồn tại, Đức Phật đã nhiều lần đề cập đến một dạng chúng sanh sp được sanh ra, hoặc chưa được sanh ra. Nguyên ngữ Pāli ghi là sambhavesīhoặc là anuppanno. Các đoạn kinh sau đây sẽ chứng minh điều ấy:

 Kinh Các loi đồăn: “Này các T-kheo, có bn loi đồăn này khiến cho các loi sanh vt hay các loi chúng sanh được tn ti hay khiến cho các loạisắp sanh thành được thọ sanh[10]. Đây là bằng chứng thứ tư.

Kinh Moliya Phagguna: “Này các T-kheo, bn loi đồăn này khiến cho các loi sanh vt hay khiến cho các loi chúng sanh được tn ti hay khiến cho các loạisắp sanh thành được thọ sanh[11]. Đây là bằng chứng thứ năm.

Kinh Tht đứa con: “Này các T-kheo, có bn loi đồăn này đưa đến s tn ti, hay s chp th tái sanh cho các loài hu tình hay chúng sanh[12]. Đây là bằng chứng thứ sáu

Kinh Có tham: “Này các T-kheo, có bn loi đồăn đưa đến s tn ti hay sự chấp thủ tái sanh ca các loài hu tình hay các loài chúng sanh”[13]. Nguyên tác Pāli: Cattārome bhikkhave, āhārā bhūtāna vā sattānahitiyā sambhavesīna vā anuggahāya.Đây là bằng chứng thứ bảy.

Kinh Lun nghđường: “Này Vaccha, trong khi mt loài hu tình quăng b thân này và sanh vào mt thân khác. Này Vaccha, Ta tuyên b rng trong khi y chính ái là nhiên liu[14]. Nguyên tác Pāli: Yasmi kho vaccha samaye imañca kāya nikkhipati, satto ca aññatara kāya anuppanno hoti, tamaha tahūpādāna vadāmi. Tahāhissa vaccha tasmi samaye upādāna hotīti.Đây là bằng chứng thứ tám.

KINH TIỂU BỘ
Tư liệu khả tín trong kinh Tiu Bkinh Tp(Sutta Nipāta). Một trong những bài kinh trong kinh Tp, được các nước theo truyền thống Phật giáo Nam truyền thường trì tụng là kinh T Bi(Metāsutta). Bài kinh này cũng xuất hiện trong Tiu Tng[15]. Hai bài kệ sau trong kinh T Biđã chứng minh rằng, có một chúng sanh trung ấm:

Mong tt c nhng ai
Hu tình có mng sng
K yếu hay k mnh
Không b sót mt ai
K dài hay k ln
Trung, thp, loài ln, nh
Loài được thy, không thy
Loài sng xa, không xa
Các loài hin đang sng
Các loài sđược sanh (sambhavesī)[16]
Mong mi loài chúng sanh
Sng hnh phúc an lc[17]

Nguyên tác Pāli ghi là: Ye keci pāabhūtatthi./ Tasā vā thāvarā vā anavasesā./ Dīghā vā ye mahantā vā./ Majjhimā rassakā aukathūlā./ Diṭṭhā vā yeva adiṭṭhā./ Ye ca dūre vasanti avidūre./ Bhūtā vā sambhavesī vā./ Sabbe sattā bhavantu sukhi-tattā[18].

Tình thương trong kinh T Bithật rộng lớn, bao hàm cả những dạng thức chúng sanh chưa được sanh ra. Vàđây chính là bằng chứng thứ chín trong tư liệu Nikāya đề cập đến thân trung ấm.

Qua ba kinh Trung B, năm kinh Tương Ưngkinh T Bitrong Tiu Bđã cung cấp 9 bằng chứng khẳng định rằng, kinh tạng Nikāya khẳng định có thân trung ấm. Dẫu rằng, trong bản dịch tiếng Việt có vài đoạn kinh cần được trau chuốt để câu văn sáng tỏ hơn. tuy nhiên, trong nguyên bản Pāli, các từ ngữ liên quan đến thân trung ấm được sử dụng chính xác và rõ ràng.

2/ Trong kinh điển Hán tạng
Trong những nguồn tư liệu Nikāya đã dẫn ở trên, 3 bản kinh Trung B và 4 bản kinh Tương Ưngđều có kinh tương đương trong Hán tạng. Để tiện việc khảo sát, chúng tôi không lặp lại những bản kinh này, mà xin lược trích một số bản kinh Hán tạng tiêu biểu.

KINH TRƯỜNG A-HÀM THẬP BÁO PHÁP
Đây là bản kinh do ngài An Thế Cao dịch vào thời Hán Hoàn Đế (漢桓帝:132-167). Nội dung bản kinh này đãđề cập đến trung hữu, là một trong 7 cõi. Bao gồm:
1/ Bất khả hữu (Địa ngục hữu)
2/ Súc sanh hữu
3/ Ngạ quỷ hữu
4/ Nhân hữu
5/ Thiên hữu
6/ Hành hữu (Nghiệp hữu)
7/ Trung hữu[19]
Đây là bằng chứng thứ mười.

KINH PHÁP CÚ THÍ DỤ
Kinh Pháp cú Thí ddo hai ngài Pháp Cự và Pháp Lập cùng dịch vào thời Tây Tấn (266-316). Kinh ghi: “Pht dy Đại vương: Thế gian có bn vic không th trn tránh. Thế nào là bn? Th nht, ti thân trung m, không th không th sanh. Th hai, mt khi đã sanh, không th không già lão. Th ba, mt khi đã già, không th không bnh tt. Th tư, mt khi có bnh, không th không chết[20]. Đây là bằng chứng thứ mười một.

KINH TẠP A-HÀM
Kinh Tp A-hàm 50 quyển, do ngài Cầu-na-bạt-đà-la dịch tại chùa Kỳ Hoàn vào niên hiệu Nguyên Gia (424-453). Kinh ghi: “Ti nước Ba-liên-pht, có Bà-la-môn tên là A-k-ni-đạt-đa, thông đạt kinh lun T-đà. Bà-la-môn này s cưới v, sau đó có chúng sanh trung m sđến làm con. Lúc vào thai m, người m rt thích lun ngh cùng người[21]. Đây là bằng chứng thứ mười hai.

KINH ĐẠI BÁT NIẾT-BÀN
Kinh Đại Bát Niết-bàn có nhiều bản, chúng tôi sử dụng bản chữ Hán của ngài Đàm Vô Sấm (385-433). Kinh ghi: “Thânngũm hin ti dit thì thân trung m sanh. Thân ngũm hin ti chung cuc chng biến thành thân trung m. Thân trung m chng phi t sanh, cũng không phi t nơi khác đến, nhưng do thân hin ti mà có thân trung m. Như khuôn in vào đất sét, khuôn in tuy hoi màđường nét thành. Danh t tuy không sai nhưng tùy theo điu kin mà mi mi sai khác. Do vy nên nói, nhc nhãn và Thiên nhãn không th nhìn thy thân trung m[22]. Đây là bằng chứng thứ mười ba.

KINH TRUNG ẤM
Kinh này do ngài Trúc Phật Niệm dịch. Ngài Trúc Phật Niệm là tác giả vàđồng tác giả của nhiều dịch phẩm nổi tiếng như kinh Trường A Hàm, T Phn Lut, A TĐàm Bát Kin Độ Lun… và là dịch giả bản kinh Trung Ấmvào niên hiệu Hoằng Thủy năm thứ nhất (399)[23].  Kinh Trung Ấm nói: “Bấy giờ Thế Tôn, tự nội quán sát, thân trung ấm này, hình chất vi tế, riêng Phật Thế Tôn, mới thấy rõ được. Cho dù chúng sanh, ở bậc hữu học, hay bậc vô học, nhất trụ nhị trụ, cho đến cửu trụ, cũng không thể thấy, được cảnh giới kia[24]. Đây là bằng chứng thứ mười lăm.

KINH ĐẠI BỬU TÍCH
Kinh Đại Bo Tíchgồm 120 quyển do ngài BồĐề Lưu Chí và nhiều tác giả cùng phiên dịch vào thời nhàĐường, từ niên hiệu Thần Long năm thứ hai (706) đến niên hiệu Tiên Thiên năm thứ hai (713) thì hoàn thành[25]. Đoạn kinh liên quan đến thân trung ấm được dẫn dưới đây do ngài Nghĩa Tịnh dịch. Kinh ghi:“Thế nào được gi là th sanh vào thai m?Đó là khi cha m khi lòng ái nhim và cùng làm chuyn nam n, người m sung mãn, nguyt kđến thi và trung m hin tin. Nên biết khi y được gi là th sanh[26]. Đây là bằng chứng thứ mười lăm.

Như vậy, qua 15 nguồn tư liệu kinh điển khả tín, từ Nikāya cho đến Hán tạng, đã cung cấp những bằng chứng sinh động, chứng minh cho sự hiện hữu của một dạng thức chúng sanh được gọi là trung ấm, hoặc tên gọi tương đương.

Với người học Phật nói chung, kinh điển được xem là tài liệu nguồn, còn các tác phẩm luận giải dùở truyền thống nào, chỉ là sự quảng diễn nghĩa lý kinh điển. Trong tiến trình học Phật, nếu không y cứ, không kiểm chứng, cũng như không tin vào kinh điển sau khi đối soát, thì chưa thể xem đó là người học Phật đúng nghĩa.

Trích bài “Trao đổi về bài viết có 49 ngày và thân trung ấm không?”
Nguyệt San Giác Ngộ
 

[1] Phật Quang Đại TừĐiển, Thích Quảng Độ dịch, tập 6, Hội Văn Hóa Giáo Dục Linh Sơn Đài Bắc xuất bản, 2000, tr, 6406.

[2] Malalasekera, G.P. Buddhist Dictionary of Pāli Proper Names. Vol 1. London: Luzac & Company Ltd., 1960, p. 746. Cf: Gandhabba means tatrūpakasatta - tasmim okāse nibbattanako satto - meaning a being fit and ready to be born to the parents concerned. The Tīkā says that the word stands for gantabba.

[3] A.P. Buddhadatta Mahāthera, Consice Pāli-English Dictionary. University of Ceylon, 1949, p.287.

[4] Kinh Trung Bộ, Đại kinh Đoạn Tận Ái số 38, tập 1, HT. Thích Minh Châu dịch, NXB. Tôn giáo, 2012, tr.328.

[5] Kinh Trung B, kinh Assalayana, số 93, tập 2, HT. Thích Minh Châu dịch, NXB. Tôn giáo, 2012, tr. 194-195.

[6]大正藏第 29 冊 No. 1558 阿毘達磨俱舍論, 卷第八, 掌馬族經

[7] Luận Câu Xá, chương 3, phân biệt giới, Đạo Sinh dịch.

[8]大正藏第 32 冊 No. 1646 成實論, 成實論卷第三, 有中陰品第二十四,阿輸羅耶那經

[9] Trung Bộ tập 1. Kinh Chánh tri kiến số 9. HT. Thích Minh Châu dịch. NXB Tôn giáo, 2012, tr.76.

[10] Kinh Tương Ưng Bộ tập 1. HT. Thích Minh Châu dịch. NXB Tôn giáo, 2013, tr. 381.

[11] Kinh Tương Ưng Bộ tập 1. HT. Thích Minh Châu dịch. NXB. Tôn giáo, 2013, tr. 382.

[12] Cattāro me bhikkhave, āhārā bhūtānaṃ vā sattānaṃṭhitiyā sambhavesīnaṃ vā anuggahāya. Kinh Tương Ưng Bộ tập 1. HT. Thích Minh Châu dịch. NXB. Tôn giáo, 2013, tr. 457.

[13] Kinh Tương Ưng Bộ tập 1. HT. Thích Minh Châu dịch. NXB. Tôn giáo, 2013, tr. 459.

[14] Kinh Tương Ưng Bộ tập 2. HT. Thích Minh Châu dịch. NXB. Tôn giáo, 2013, tr. 430.

[15] Kinh Tiu B tập 1. HT. Thích Minh Châu dịch. NXB. Tôn giáo, 20115, tr.35-37.

[16]Sutta-Nipāta, New Edition by Dines Andersen and Helmer Smith. London: Published for the Pāli Text Society by Geoffrey Cumberlege, Oxford University Press, 1948, p. 26.

[17] Kinh Tiu B tập 1. HT. Thích Minh Châu dịch. NXB Tôn giáo. 2015, tr.358-359.

[18]Sutta-Nipāta, New Edition by Dines Andersen and Helmer Smith. London: Published for the Pāli Text Society by Geoffrey Cumberlege, Oxford University Press, 1948, p.25-26.

[19]大正藏第 55 冊 No. 2145 出三藏記集, 卷第二,十報經二卷(舊錄云長阿含十報法)

 

[20]大正藏第 04 冊 No. 0211 法句譬喻經, 卷第一, 無常品第一. Nguyên văn: 佛告大王:人有四事, 不可得離. 何謂為四? 一者在中陰中, 不得不受生. 二者已生, 不得不受老. 三者已老, 不得不受病. 四者已病, 不得不受死.

[21]大正藏第 02 冊 No. 0099 雜阿含經, 卷第二十五, (六四〇).Nguyên văn: 巴連弗國, 於彼國當有婆羅門, 名曰阿耆尼達多, 通達比陀經論, 彼婆羅門當納妻. 彼時, 中陰眾生當來與其作子, 入母胎中時, 彼母欲與人論議.

[22]大正藏第 12 冊 No. 0374 大般涅槃經, 卷第二十九, 師子吼菩薩品第十一之三.Nguyên văn: 現在陰滅, 中陰陰生, 是現在陰, 終不變為中陰五陰. 中陰五陰, 亦非自生, 不從餘來. 因現陰故, 生中陰陰, 如印印泥, 印壞文成. 名雖無差, 而時節各異. 是故我說中陰五陰, 非肉眼見, 天眼所見.

[23]大正藏第 55 冊 No. 2145 出三藏記集, 卷第十五, 佛念法師傳第五

[24]大正藏第 12 冊 No. 0385 中陰經, 卷上, 如來五弘誓入中陰教化品第一. Nguyên văn: 爾時, 世尊內自思惟: 此中陰形極為微細, 唯佛, 世尊獨能覩見, 然此眾生——有學, 無學, 一住, 二住乃至九住——非彼境界所能覩見.

[25]大正藏第 55 冊 No. 2154 開元釋教錄, 卷第九. Nguyên văn:大寶積經一百二十卷(單重合譯神龍二年創首先天二年功畢).

[26]大正藏第 11 冊 No. 0310 大寶積經, 卷第五十六, 佛說入胎藏會第十四之一. Nguyên văn: 云何受生入母胎中? 若父母染心共為婬愛, 其母腹淨月期時至, 中蘊現前, 當知爾時名入母胎.