Trong bài viết “Có 49 ngày và thân trung ấm không?” đăng trên trang huyenkhongsonthuong.net và ở trang thuvienhoasen.org, tác giả Minh Đức Triều Tâm Ảnh đã cho rằng không có thân trung ấm.
Trên tinh thần đối thoại và cầu thị, bằng tư liệu kinh văn của cả hai truyền thống (Hán Tạng và Nikāya), chúng tôi nghiêm túc khẳng định rằng có thân trung ấm.
Theo khảo cứu của chúng tôi, nội dung về thân trung ấm, và nghĩa tương đương của khái niệm này, đã được Đức Phật chỉ rõ trong nhiều bản kinh. Chuyên khảo sau đây sẽ làm sáng tỏ việc đó.
Những bằng chứng xác thực về thân trung ấm trong kinh điển
Theo kinh tạng Nikāya, thân trung ấm có nhiều tên gọi như hương ấm, trung ấm (Gandhabba), chúng sinh chờ thọ sanh (Sambhavesī). Theo kinh điển Hán tạng, thân trung ấm nhằm chỉ cho thức thân của con người trong khoảng thời gian từ sau khi chết đến lúc được đầu thai kiếp sau[1].
Về tư liệu Nikāya, từ Gandhabba đượcTừđiển Phật học nhân xưng Pāli (Buddhist Dictionary of Pāli Proper Names) giải thích: “Gandhabba ởđây mang nghĩa tatrūpakasatta - tasmim okāse nibbattanako satto, tức là một chúng sinh thích hợp và sẵn sàng được sinh ra với cha mẹ có nhân duyên với chúng sinh ấy. Các tác phẩm chú giải thường viết tắt từ này là gantabba[2].
Kế đến, từ Sambhavesī,được tựđiển Pāli của ngài A.P. Buddhadatta Mahāthera giải thích là “one who is seeking birth”[3], cụm từ Sambhavesīđược các nhà dịch kinh điển Pāli như Rhys Davids dịch là “(being)… that seek to become”, Tỳ-kheo Thanissaro dịch là “(being)… search of a place to be born”. Cụm từ Sambhavesīđược Hòa thượng Bửu Chơn trong từđiển Pāli-Việt dịch là“Người đang tìm nơi thọ sinh”. Chữ “người”được sử dụng ởđây tương đương với nghĩa chúng sinh vàđang đi tìm nơi thọ sinh, tức là một chúng sinh trung gian. Ở nghĩa này Sambhavesī tương đương với “thân trung ấm”.
Từ những gợi mở làm cơ sở ban đầu này, chúng tôi đã khảo sát kinh tạng Nikāya, nhằm tìm kiếm những bài kinh có liên quan đến thân trung ấm.
1/ Trong kinh tạng Nikāya
KINH TRUNG BỘ
Trong Đại kinh Đoạn Tận Ái số 38, Đức Phật đã xác quyết rằng: “Này các Tỷ-kheo, khi nào cha mẹ có giao hợp, và người mẹ trong thời có thể thụ thai, và hương ấm (Gandhabba) có hiện tiền, có ba sự hòa hợp như vậy, thì bào thai mới thành hình[4]”. Đây là bằng chứng thứ nhất.
Trong kinh Assalāyana số 93, khi mô tảđoạn hội thoại giữa ẩn sĩ Asiata Devala cùng với bảy vịẩn sĩ Bà-la-môn, sự hiện diện của thân trung ấm hết sức rõ ràng:
- Chư Tôn giả, chư Tôn giả có biết nhập thai là như thế nào?
- Thưa Tôn giả, chúng con biết nhập thai như thế này. Ởđây, mẹ cha phải giao hợp, người mẹ phải trong thời (có thể thọ sanh), hương ấm (gandhabha) phải hiện hữu, ba sự như vậy có hòa hợp, nhập thai mới thành tựu.
- Chư Tôn giả, chư Tôn giả có biết hương ấm ấy là Khattiya, hay Bà-la-môn, hay Vessa, hay Sudda?
- Thưa Tôn giả, chúng tôi không biết hương ấm ấy là Khattiya, hay Bà-la-môn, hay Vessa, hay Sudda[5].
Đoạn kinh này cho thấy, đã có sự tồn tại của thân trung ấm mà với mắt thường của mình, bảy vị Bà-la-môn không thể phân định rạch ròi sự khác biệt về hương ấm của bốn giai cấp.
Bản kinh Kinh Assalāyana số 93này, với tên gọi là Kinh Chưởng Mã Tộc(掌馬族經)[6] hay là Āśvalāyanasūtra (Phạn bản)[7], là một cơ sở lý luận quan trọng trong tác phẩm Câu-xá-luận, nhằm chứng minh có thân trung ấm. LuậnThành Thật quyển 3 cũng dùng bản kinh này để chứng minh có thân trung ấm, với tên gọi là kinh A-thâu-la-da-na[8]. Tư liệu về bản kinh kinh Assalāyana số 93 trong kinh Trung Bộ là bằng chứng thứ hai.
Kinh Chánh tri kiến số 9 (Sammāditthi sutta), là một bài kinh do tôn giả Xá-lợi-phất thuyết giảng về giáo lý Thập nhị duyên sinh. Tư liệu về thân trung ấm liên quan đến một loại chúng sinh chuẩn bịđược sinh ra (sambhavesīnaṃ). Kinh ghi: “Chư Hiền, có bốn loại thức ăn này, khiến các loài chúng sinh đã sinh được an trú hay các loài hữu tình sẽ sinh được hỗ trợ cho sinh”. Nguyên bản Pāli là “Cattāro me āvuso āhārā bhūtānaṃ vā sattānaṃṭhitiyā sambhavesīnaṃ vā anuggahāya”.Đây là bằng chứng thứ ba[9].
KINH TƯƠNG ƯNG
Trong Kinh Tương Ưng, khi bàn về các loại thức ăn giúp cho chúng sinh tồn tại, Đức Phật đã nhiều lần đề cập đến một dạng chúng sanh sắp được sanh ra, hoặc chưa được sanh ra. Nguyên ngữ Pāli ghi là sambhavesīhoặc là anuppanno. Các đoạn kinh sau đây sẽ chứng minh điều ấy:
Kinh Các loại đồăn: “Này các Tỷ-kheo, có bốn loại đồăn này khiến cho các loại sanh vật hay các loại chúng sanh được tồn tại hay khiến cho các loạisắp sanh thành được thọ sanh[10]. Đây là bằng chứng thứ tư.
Kinh Moliya Phagguna: “Này các Tỷ-kheo, bốn loại đồăn này khiến cho các loại sanh vật hay khiến cho các loại chúng sanh được tồn tại hay khiến cho các loạisắp sanh thành được thọ sanh[11]. Đây là bằng chứng thứ năm.
Kinh Thịt đứa con: “Này các Tỷ-kheo, có bốn loại đồăn này đưa đến sự tồn tại, hay sự chấp thủ tái sanh cho các loài hữu tình hay chúng sanh”[12]. Đây là bằng chứng thứ sáu
Kinh Có tham: “Này các Tỷ-kheo, có bốn loại đồăn đưa đến sự tồn tại hay sự chấp thủ tái sanh của các loài hữu tình hay các loài chúng sanh”[13]. Nguyên tác Pāli: Cattārome bhikkhave, āhārā bhūtānaṃ vā sattānaṃṭhitiyā sambhavesīnaṃ vā anuggahāya.Đây là bằng chứng thứ bảy.
Kinh Luận nghịđường: “Này Vaccha, trong khi một loài hữu tình quăng bỏ thân này và sanh vào một thân khác. Này Vaccha, Ta tuyên bố rằng trong khi ấy chính ái là nhiên liệu[14]. Nguyên tác Pāli: Yasmiṃ kho vaccha samaye imañca kāyaṃ nikkhipati, satto ca aññataraṃ kāyaṃ anuppanno hoti, tamahaṃ taṇhūpādānaṃ vadāmi. Taṇhāhissa vaccha tasmiṃ samaye upādānaṃ hotīti.Đây là bằng chứng thứ tám.
KINH TIỂU BỘ
Tư liệu khả tín trong kinh Tiểu Bộ là kinh Tập(Sutta Nipāta). Một trong những bài kinh trong kinh Tập, được các nước theo truyền thống Phật giáo Nam truyền thường trì tụng là kinh Từ Bi(Metāsutta). Bài kinh này cũng xuất hiện trong Tiểu Tụng[15]. Hai bài kệ sau trong kinh Từ Biđã chứng minh rằng, có một chúng sanh trung ấm:
Mong tất cả những ai
Hữu tình có mạng sống
Kẻ yếu hay kẻ mạnh
Không bỏ sót một ai
Kẻ dài hay kẻ lớn
Trung, thấp, loài lớn, nhỏ
Loài được thấy, không thấy
Loài sống xa, không xa
Các loài hiện đang sống
Các loài sẽđược sanh (sambhavesī)[16]
Mong mọi loài chúng sanh
Sống hạnh phúc an lạc[17]
Nguyên tác Pāli ghi là: Ye keci pāṇabhūtatthi./ Tasā vā thāvarā vā anavasesā./ Dīghā vā ye mahantā vā./ Majjhimā rassakā aṇukathūlā./ Diṭṭhā vā yeva adiṭṭhā./ Ye ca dūre vasanti avidūre./ Bhūtā vā sambhavesī vā./ Sabbe sattā bhavantu sukhi-tattā[18].
Tình thương trong kinh Từ Bithật rộng lớn, bao hàm cả những dạng thức chúng sanh chưa được sanh ra. Vàđây chính là bằng chứng thứ chín trong tư liệu Nikāya đề cập đến thân trung ấm.
Qua ba kinh Trung Bộ, năm kinh Tương Ưngvà kinh Từ Bitrong Tiểu Bộđã cung cấp 9 bằng chứng khẳng định rằng, kinh tạng Nikāya khẳng định có thân trung ấm. Dẫu rằng, trong bản dịch tiếng Việt có vài đoạn kinh cần được trau chuốt để câu văn sáng tỏ hơn. tuy nhiên, trong nguyên bản Pāli, các từ ngữ liên quan đến thân trung ấm được sử dụng chính xác và rõ ràng.
2/ Trong kinh điển Hán tạng
Trong những nguồn tư liệu Nikāya đã dẫn ở trên, 3 bản kinh Trung Bộ và 4 bản kinh Tương Ưngđều có kinh tương đương trong Hán tạng. Để tiện việc khảo sát, chúng tôi không lặp lại những bản kinh này, mà xin lược trích một số bản kinh Hán tạng tiêu biểu.
KINH TRƯỜNG A-HÀM THẬP BÁO PHÁP
Đây là bản kinh do ngài An Thế Cao dịch vào thời Hán Hoàn Đế (漢桓帝:132-167). Nội dung bản kinh này đãđề cập đến trung hữu, là một trong 7 cõi. Bao gồm:
1/ Bất khả hữu (Địa ngục hữu)
2/ Súc sanh hữu
3/ Ngạ quỷ hữu
4/ Nhân hữu
5/ Thiên hữu
6/ Hành hữu (Nghiệp hữu)
Đây là bằng chứng thứ mười.
KINH PHÁP CÚ THÍ DỤ
Kinh Pháp cú Thí dụdo hai ngài Pháp Cự và Pháp Lập cùng dịch vào thời Tây Tấn (266-316). Kinh ghi: “Phật dạy Đại vương: “Thế gian có bốn việc không thể trốn tránh. Thế nào là bốn? Thứ nhất, tại thân trung ấm, không thể không thọ sanh. Thứ hai, một khi đã sanh, không thể không già lão. Thứ ba, một khi đã già, không thể không bệnh tật. Thứ tư, một khi có bệnh, không thể không chết”[20]. Đây là bằng chứng thứ mười một.
KINH TẠP A-HÀM
Kinh Tạp A-hàm 50 quyển, do ngài Cầu-na-bạt-đà-la dịch tại chùa Kỳ Hoàn vào niên hiệu Nguyên Gia (424-453). Kinh ghi: “Tại nước Ba-liên-phất, có Bà-la-môn tên là A-kỳ-ni-đạt-đa, thông đạt kinh luận Tỳ-đà. Bà-la-môn này sẽ cưới vợ, sau đó có chúng sanh trung ấm sẽđến làm con. Lúc vào thai mẹ, người mẹ rất thích luận nghị cùng người”[21]. Đây là bằng chứng thứ mười hai.
KINH ĐẠI BÁT NIẾT-BÀN
Kinh Đại Bát Niết-bàn có nhiều bản, chúng tôi sử dụng bản chữ Hán của ngài Đàm Vô Sấm (385-433). Kinh ghi: “Thânngũấm hiện tại diệt thì thân trung ấm sanh. Thân ngũấm hiện tại chung cuộc chẳng biến thành thân trung ấm. Thân trung ấm chẳng phải tự sanh, cũng không phải từ nơi khác đến, nhưng do thân hiện tại mà có thân trung ấm. Như khuôn in vào đất sét, khuôn in tuy hoại màđường nét thành. Danh từ tuy không sai nhưng tùy theo điều kiện mà mỗi mỗi sai khác. Do vậy nên nói, nhục nhãn và Thiên nhãn không thể nhìn thấy thân trung ấm”[22]. Đây là bằng chứng thứ mười ba.
KINH TRUNG ẤM
Kinh này do ngài Trúc Phật Niệm dịch. Ngài Trúc Phật Niệm là tác giả vàđồng tác giả của nhiều dịch phẩm nổi tiếng như kinh Trường A Hàm, Tứ Phần Luật, A TỳĐàm Bát Kiền Độ Luận… và là dịch giả bản kinh Trung Ấmvào niên hiệu Hoằng Thủy năm thứ nhất (399)[23]. Kinh Trung Ấm nói: “Bấy giờ Thế Tôn, tự nội quán sát, thân trung ấm này, hình chất vi tế, riêng Phật Thế Tôn, mới thấy rõ được. Cho dù chúng sanh, ở bậc hữu học, hay bậc vô học, nhất trụ nhị trụ, cho đến cửu trụ, cũng không thể thấy, được cảnh giới kia”[24]. Đây là bằng chứng thứ mười lăm.
KINH ĐẠI BỬU TÍCH
Kinh Đại Bảo Tíchgồm 120 quyển do ngài BồĐề Lưu Chí và nhiều tác giả cùng phiên dịch vào thời nhàĐường, từ niên hiệu Thần Long năm thứ hai (706) đến niên hiệu Tiên Thiên năm thứ hai (713) thì hoàn thành[25]. Đoạn kinh liên quan đến thân trung ấm được dẫn dưới đây do ngài Nghĩa Tịnh dịch. Kinh ghi:“Thế nào được gọi là thọ sanh vào thai mẹ?Đó là khi cha mẹ khởi lòng ái nhiễm và cùng làm chuyện nam nữ, người mẹ sung mãn, nguyệt kỳđến thời và trung ấm hiện tiền. Nên biết khi ấy được gọi là thọ sanh”[26]. Đây là bằng chứng thứ mười lăm.
Như vậy, qua 15 nguồn tư liệu kinh điển khả tín, từ Nikāya cho đến Hán tạng, đã cung cấp những bằng chứng sinh động, chứng minh cho sự hiện hữu của một dạng thức chúng sanh được gọi là trung ấm, hoặc tên gọi tương đương.
Với người học Phật nói chung, kinh điển được xem là tài liệu nguồn, còn các tác phẩm luận giải dùở truyền thống nào, chỉ là sự quảng diễn nghĩa lý kinh điển. Trong tiến trình học Phật, nếu không y cứ, không kiểm chứng, cũng như không tin vào kinh điển sau khi đối soát, thì chưa thể xem đó là người học Phật đúng nghĩa.
Trích bài “Trao đổi về bài viết có 49 ngày và thân trung ấm không?”
Nguyệt San Giác Ngộ
[1] Phật Quang Đại TừĐiển, Thích Quảng Độ dịch, tập 6, Hội Văn Hóa Giáo Dục Linh Sơn Đài Bắc xuất bản, 2000, tr, 6406.
[2] Malalasekera, G.P. Buddhist Dictionary of Pāli Proper Names. Vol 1. London: Luzac & Company Ltd., 1960, p. 746. Cf: Gandhabba means tatrūpakasatta - tasmim okāse nibbattanako satto - meaning a being fit and ready to be born to the parents concerned. The Tīkā says that the word stands for gantabba.
[3] A.P. Buddhadatta Mahāthera, Consice Pāli-English Dictionary. University of Ceylon, 1949, p.287.
[4] Kinh Trung Bộ, Đại kinh Đoạn Tận Ái số 38, tập 1, HT. Thích Minh Châu dịch, NXB. Tôn giáo, 2012, tr.328.
[5] Kinh Trung Bộ, kinh Assalayana, số 93, tập 2, HT. Thích Minh Châu dịch, NXB. Tôn giáo, 2012, tr. 194-195.
[6]大正藏第 29 冊 No. 1558 阿毘達磨俱舍論, 卷第八, 掌馬族經
[7] Luận Câu Xá, chương 3, phân biệt giới, Đạo Sinh dịch.
[8]大正藏第 32 冊 No. 1646 成實論, 成實論卷第三, 有中陰品第二十四,阿輸羅耶那經
[9] Trung Bộ tập 1. Kinh Chánh tri kiến số 9. HT. Thích Minh Châu dịch. NXB Tôn giáo, 2012, tr.76.
[10] Kinh Tương Ưng Bộ tập 1. HT. Thích Minh Châu dịch. NXB Tôn giáo, 2013, tr. 381.
[11] Kinh Tương Ưng Bộ tập 1. HT. Thích Minh Châu dịch. NXB. Tôn giáo, 2013, tr. 382.
[12] Cattāro me bhikkhave, āhārā bhūtānaṃ vā sattānaṃṭhitiyā sambhavesīnaṃ vā anuggahāya. Kinh Tương Ưng Bộ tập 1. HT. Thích Minh Châu dịch. NXB. Tôn giáo, 2013, tr. 457.
[13] Kinh Tương Ưng Bộ tập 1. HT. Thích Minh Châu dịch. NXB. Tôn giáo, 2013, tr. 459.
[14] Kinh Tương Ưng Bộ tập 2. HT. Thích Minh Châu dịch. NXB. Tôn giáo, 2013, tr. 430.
[15] Kinh Tiểu Bộ tập 1. HT. Thích Minh Châu dịch. NXB. Tôn giáo, 20115, tr.35-37.
[16]Sutta-Nipāta, New Edition by Dines Andersen and Helmer Smith. London: Published for the Pāli Text Society by Geoffrey Cumberlege, Oxford University Press, 1948, p. 26.
[17] Kinh Tiểu Bộ tập 1. HT. Thích Minh Châu dịch. NXB Tôn giáo. 2015, tr.358-359.
[18]Sutta-Nipāta, New Edition by Dines Andersen and Helmer Smith. London: Published for the Pāli Text Society by Geoffrey Cumberlege, Oxford University Press, 1948, p.25-26.
[19]大正藏第 55 冊 No. 2145 出三藏記集, 卷第二,十報經二卷(舊錄云長阿含十報法)
[20]大正藏第 04 冊 No. 0211 法句譬喻經, 卷第一, 無常品第一. Nguyên văn: 佛告大王:人有四事, 不可得離. 何謂為四? 一者在中陰中, 不得不受生. 二者已生, 不得不受老. 三者已老, 不得不受病. 四者已病, 不得不受死.
[21]大正藏第 02 冊 No. 0099 雜阿含經, 卷第二十五, (六四〇).Nguyên văn: 巴連弗國, 於彼國當有婆羅門, 名曰阿耆尼達多, 通達比陀經論, 彼婆羅門當納妻. 彼時, 中陰眾生當來與其作子, 入母胎中時, 彼母欲與人論議.
[22]大正藏第 12 冊 No. 0374 大般涅槃經, 卷第二十九, 師子吼菩薩品第十一之三.Nguyên văn: 現在陰滅, 中陰陰生, 是現在陰, 終不變為中陰五陰. 中陰五陰, 亦非自生, 不從餘來. 因現陰故, 生中陰陰, 如印印泥, 印壞文成. 名雖無差, 而時節各異. 是故我說中陰五陰, 非肉眼見, 天眼所見.
[23]大正藏第 55 冊 No. 2145 出三藏記集, 卷第十五, 佛念法師傳第五
[24]大正藏第 12 冊 No. 0385 中陰經, 卷上, 如來五弘誓入中陰教化品第一. Nguyên văn: 爾時, 世尊內自思惟: 此中陰形極為微細, 唯佛, 世尊獨能覩見, 然此眾生——有學, 無學, 一住, 二住乃至九住——非彼境界所能覩見.
[25]大正藏第 55 冊 No. 2154 開元釋教錄, 卷第九. Nguyên văn:大寶積經一百二十卷(單重合譯神龍二年創首先天二年功畢).
[26]大正藏第 11 冊 No. 0310 大寶積經, 卷第五十六, 佛說入胎藏會第十四之一. Nguyên văn: 云何受生入母胎中? 若父母染心共為婬愛, 其母腹淨月期時至, 中蘊現前, 當知爾時名入母胎.