Văn xuôi

THỦ TÍN

Đại sư Tinh Vân - Ni sư Hạnh Đoan dịch - Trích sách Nghĩa Tình Trân Quý

24/04/2017


Năm 1995 "Công Ty Văn Hóa Xuất Bản Thiên Hạ" tổ chức cuộc thi viết văn "Bách Vạn Truyền Đăng". Tiên sinh Giang Duyệt Trung đến từ Trung Quốc Đại Lục, viết một bài "Nhân sinh dĩ bất thoái phiếu", đã rinh được giải thưởng cao nhất. Bài văn nói về việc trung thành giữ lời hứa, tính cách "vĩnh bất thoái phiếu”[1](33) này đối với cả một đời tôi có cảm xúc rất sâu.

Khi tiểu thư Vương Phương Hạnh người phát hành tạp chí "Thiên Hạ" tuyên bố nội dung trên trong lễ ban thưởng, thì từng giọt từng giọt ký ức xa xưa chợt ùa về trong tâm tôi.

Năm 1938, tôi gần 12 tuổi, theo mẫu thân tìm phụ thân đi buôn bị mất tích, lúc ghé qua Thê Hà Sơn, sư Tri khách hỏi tôi:

- Có muốn xuất gia không?

Tôi tùy tiện đáp một câu:

- Dạ muốn.

Thượng nhân Chí Khai lúc đó đang làm Giám viện Thê Hà Sơn tự, nghe kể việc này, lập tức sai người dẫn tôi tới trước mặt ông và bảo:

- Tiểu bằng hữu, nghe nói con muốn xuất gia, vậy bái ta làm thầy nghe!

Mẫu thân mới đầu chẳng chịu, nhưng vì tôi thủ tín, nhất định "bất thoái phiếu" nên thưa với mẫu thân: Con đã nhận lời họ rồi!

Tôi phải năn nỉ thỉnh cầu mấy lượt, mẫu thân đành gạt lệ chìu theo, thui thủi chiếc bóng, lặng lẽ ra về.

Từ đó đến nay, xuất gia gần 60 năm, trong lòng tôi chỉ có một niệm, chính là trung thành với lời hứa của mình, làm tốt bổn phận tu sĩ.

Năm 1949, vận nước đổi thay, dọc lộ thây phơi đầy, lúc đó bạn đồng học tụ tập tại Nam Kinh Hoa Tạng Tự, đề xướng tổ chức "Đội tăng lữ cứu hộ" dự tính sẽ đi theo chính phủ Dân Quốc sang Đài Loan, các Tăng thanh niên ở địa phương khác cũng xôn xao hưởng ứng. Ban đầu tôi chỉ im lặng quan sát tình hình và tích cực ủng hộ, nhưng sau đó thấy bạn mình định rút lui, tôi bèn đứng lên phát biểu:

- Chúng ta tuyệt không thể bỏ cuộc, giữa đường hủy tín với các thanh niên bằng hữu đến tham dự...

Thế là tôi dũng cảm nhận lấy việc thống lãnh đưa đội ra đi.

Khi xuất phát vốn là một đoàn hơn trăm người rầm rộ oai phong, đến Thượng Hải, thì thoái tâm lìa đội đã hơn 40 người, khi thuyền đến được bến Cơ Long, lại có ba mươi người bỏ đi, cuối cùng chỉ còn vỏn vẹn bốn mươi người. Đã vô cách thành đội, sau đó mọi người cũng bàn bạc, đồng ra quyết định mạnh ai nấy đi.

Đến nay nghĩ lại, nhờ lúc đó tôi khư khư chấp chặt không hồi lui, chịu khởi niệm đứng ra hướng dẫn đội đến Đài Loan, nên sau này mới có thể khai mở một khoảng trời riêng tuyệt tốt.


Đã
 hứa thì phải giữ lời 

Sau khi đến Đài Loan, tôi từng ở tạm (quải đơn) tại các tự viện Trung Lịch, Tân Trúc, Đài Bắc, do sự việc bất định, nên vô cách an thân ở lâu.

Giữa mùa hạ năm 1952, những người dân Nghi Lan như Lý Quyết Hòa, Lâm Tùng Bình, Mã Thắng... mời tôi đến Nghi Lan trú ngụ tại Lôi Âm Tự hoằng pháp, tôi hoan hỉ nhận lời.

Nhớ lại lúc đó trong chùa có các gia đình quân nhân cư ngụ, nên trên thềm Đan Trì phơi đầy quần áo, trong đây đám trẻ con chạy qua chạy lại nô đùa như con thoi, sân chùa dẫy đầy rác rến, tạp vật. Mỗi lần đi nhà xí, vì hỏa lò nằm trước cửa nhà xí, nên phải đợi người dời cái hỏa lò đi mới có thể ra vào được.

Tóm lại, hoàn cảnh chẳng giống đạo tràng, nhưng tôi tự nhủ “Đã hứa với người thì phải giữ lời” vì vậy mà an trụ tại đó.

Hơn bốn mươi năm sau, Lôi Âm Tự đã qua ba lần tu sửa, chẳng còn hình dáng thuở xưa, nhưng hộ khẩu tôi vẫn thường trú tại Nghi Lan, mặc dù vân du hành cước, đi khắp thế giới, nhưng tôi đối với một câu hứa ở Nghi Lan, đến nay vẫn giữ lời.

Nghi Lan là một xứ hẻo lánh, dân phong bảo thủ. Hồi mới đến đây hoằng pháp, tôi thường bị quấy nhiễu ngăn trở, nhưng tôi chẳng thối tâm, cứ tiếp tục thành lập "Ban bổ tập quốc văn", "Hội thanh niên", "Hội học sinh", "Đội văn nghệ"… nhằm làm sống lại phong trào học Phật pháp, độ được rất nhiều hương dân thuần phác. Thanh niên nơi đây nhiệt tình thành tâm, khiến người ta cảm động. Do vậy, tôi càng thấy ban sơ mình giữ chữ tín, quyết không hồi lui là một lựa chọn hết sức đúng đắn. 

Vì vậy mà lúc đó các chùa như Thiên Long Tự ở Gia Nghĩa, Phật giáo Đường Cao Hùng, Pháp Vân Tự Miêu Lật v.v.. xôn xao mời tôi qua đó trụ trì hoằng pháp, tôi đã nhẹ nhàng từ chối.

Kinh rằng: "Hoằng pháp là bổn phận, lợi sinh là sự nghiệp"… Hoằng pháp lợi sinh cố nhiên là trách nhiệm to lớn không thể chối từ của mỗi người con Phật, nhưng nếu như bản thân không đủ điều kiện, hiệu quả nhất định chẳng rõ ràng. Vì có nhận thức như thế, nên ngay từ thời thanh thiếu niên, tôi đã lập chí tương lai mình sẽ "hưng biện giáo dục, đào tạo nhân tài". Mãi đến năm 1964, tôi từ Bắc vô Nam phụ giúp tín đồ Cao Hùng hoàn thành xây dựng Thọ Sơn Tự xong rồi, phát hiện xứ này tuy địa phương không lớn, nhưng nếu xây lầu, thì có thể dùng được rất nhiều không gian, nên quyết định khai mở một Phật học viện nhỏ tại đây.

Khi tôi đang khẩn trương tính toán cho việc chiêu sinh, thì một tín đồ có máu mặt tìm đến cản ngăn, lên tiếng bảo:

- Lập Phật học viện tương lai sẽ không có cơm ăn, tôi cảnh báo cho thầy biết, nếu như thầy mà mở Phật học viện, chúng tôi không ủng hộ thầy đâu!

Lập Phật học viện tất nhiên phải gánh vác vô số điều không lường, chẳng phải hễ bắt tay vào là thấy kết quả ngay liền được, nên rất khó thu được sự ủng hộ của đại chúng. Nhưng đã có cơ hội thực hiện tâm nguyện ban sơ, tôi há có thể huỷ bỏ, thu hồi lời đã hứa? Cho nên tôi kiên nghị đáp rằng:

- Hết sức cảm tạ ngài đã kiến nghị, ngài có thể không ủng hộ việc này, nhưng cũng đừng gây trở ngại việc làm công đức này. 

Chớp mắt, Phật Học viện đến nay đã trải qua ba mươi mấy năm, không những tôi chưa từng nửa đường bỏ cuộc mà còn để lại sự nghiệp lâu dài cho lịch sử. Học sinh tốt nghiệp đông vô số, được giáo giới Đài Loan nhiệt liệt tán dương.


Trải
 qua gian khổ chỉ  thực hiện lời hứa

Năm 1957, cha con Trương Thiếu Tề, Trương Nhược Hư sáng lập tuần san "Giác Thế", mời tôi làm Tổng biên tập. Lúc đó tôi thường bôn ba hoằng pháp giữa Nghi Lan, Cao Hùng. Nghĩ rằng nếu mỗi tuần đi tàu suốt đến Đài Bắc làm công tác biên tập thì có hai trở ngại: Một là lộ phí xe cộ khó kham, hai là thời gian không đủ, sợ rằng việc này nếu nhận, sẽ cáng đáng không chu đáo, nên tôi trả lời “Trước tiên các vị hãy tự xử lý lấy, đến hạn kỳ cứ thử tìm cao nhân khác. Khi nào hết sức tìm rồi mà không được nữa thì tôi sẽ làm”. 

Năm 1962, chính vì thực hiện một lời đã hứa, tôi đành nhận lại lời mời, tiếp quản tuần san "Giác Thế". Đến nay phát hành 2000 kỳ, mỗi kỳ 40 vạn, đây cũng là ấn phẩm đứng đầu trong giới Phật Giáo Đài Loan. 

Mặc dù thường xuyên vì bảo vệ lời hứa chẳng muốn thất tín, mà tôi đã trải qua không biết bao nhiêu gian khổ chua cay, nhưng cũng chính nhờ tính cách này đã giúp tôi tăng trưởng nhiều trí huệ. 

Năm 1967, tôi đem "Viện Phục Vụ Văn Hoá Phật Giáo" tọa lạc tại vị trí đắc địa quan trọng, sang nhượng, nhờ vậy mà có tiền mua đất Phật Quang Sơn. Khi đó các đồng đạo đều cười nhạo tôi, họ nói:

- Ông cuối cùng thấy vô phương phát triển ở Đài Bắc nên chỉ còn nước tìm vào miền Nam phát huy”.

Tôi trả lời:

- Tôi sẽ quay trở lại đây! 

Ba năm sau, tôi thấy Phật Quang Sơn bắt đầu có đủ quy mô, để chứng tỏ đối với lời hứa ban sơ mình không hề thất tín, ngay tại đường La Tư Phúc Đài Bắc tôi thành lập "Tịnh Xá Phổ Môn" cho chúng huân tu, sau này dời đến đường Tùng Giang, đổi tên là "Biệt Viện Đài Bắc". Năm 1978 lại dời Đông lộ Dân Quyền, chính thức lấy tên là "Phổ Môn Tự". 

Năm 1994, nhận lời tín đồ thỉnh cầu, bên cạnh trạm hoả xa Tùng Sơn tôi mở thêm "Đạo Tràng Đài Bắc" bên trong thiết lập "Hội Phật Quang", "Xã Giáo Quán", "Mỹ Thuật Quán", đem Phật giáo cùng mỹ thuật văn nghệ kết hợp với nhau, trồng tịnh liên nơi vùng đô hội náo nhiệt.

Năm 1963, tôi theo "Đoàn tham bái Phật giáo Trung Hoa Dân Quốc" đến Mã Lai hoằng pháp, mấy năm sau, tôi khai kiến Phật Quang Sơn. Lúc này pháp sư Hoành Tông trụ trì "Phúc Hải Thiền Uyển" ở Tân Gia Ba về Đài Loan thăm thân nhân, trong lúc trò chuyện, ông nói: Hiện thời Đài Loan có rất nhiều tự viện đều hướng Mã Lai hoá duyên, thu lợi được rất nhiều". Tôi nghe xong, tự bảo lòng: "Chúng tôi khai kiến Phật Quang Sơn không những không hướng tín đồ Mã Lai hoá duyên, hơn nữa tương lai nếu như tôi không có sức bố thí, thì tuyệt đối không dẫm lên đất Mã một bước". 

Năm 1983, khi Phật Quang Sơn lần đầu tổ chức đoàn hoằng pháp đến Mã Lai, tín chúng xếp hàng dài như tường thành khắp hai bên đường, quỳ bái cúng dường, trải qua mấy tiếng. Tính ra thu được mười bảy vạn tiền Mã Lai, tôi lập tức quyên tặng cho Học Viện Phật giáo Mã Lai, giữ đúng lời hứa với lòng, chẳng vì lợi ích riêng mà thất tín. 

Hơn mười năm nay, tôi tại Mã Lai hoằng pháp nhận được rất nhiều phong bao cúng dường, đều tư trợ hết cho tự viện tại đó. Mãi đến hôm nay, trừ Lê-cô[2](34) ra, bởi vì bà cùng Phật Quang Sơn có duyên đặc biệt. Từ khai sơn 30 năm nay, tôi chưa từng quyên tiền người nước Mã. 

1990, pháp sư Minh Lễ ở Paris mời tôi qua nước Pháp hoằng đạo. Lúc này một bà lão họ Hoàng sau khi qui y xong, thỉnh cầu tôi đến Paris xây chùa, khi đó tôi buột miệng nói: “Được” 

Sau khi tôi về đến Đài Loan, Hoàng lão thái thái cùng con dâu Chung Thắng Lợi tìm đến nài thỉnh. Vì thủ tín, mặc dù lúc này Phật Quang Sơn kinh tế đang cực kỳ khó khăn. Nhờ họ giới thiệu, tôi mua một toà cổ bảo ( khu đất có tường thành bao quanh) tại Paris, tạo nên ngôi đạo tràng đầu tiên tại Âu Châu.

Tháng 10 năm 1996 "Hội Phật Quang Quốc Tế" khai mở "Đại hội hội viên" lần thứ 5 tại Paris. Đạo tràng ở cổ bảo thành, là tụ điểm khiến mọi người lưu luyến khó quên. Nhìn thấy chúng hội viên hân hoan bày tỏ tình cảm, tôi không ngăn được nhớ đến thuở đầu. Khi chúng tôi qua đây thăm dò, thời tiết đang ở 2 độ C, thầy trò chúng tôi đã lặn lội giữa trời tuyết mịt mù, đi tuần thị khắp bốn bên đồng không mông quạnh rồi tiến hành việc biến vùng cô bảo hẻo lánh này thành chỗ khói hương phồn thịnh, cùng mê mãi bàn về tương lai cho đến khi trời sáng... Bây giờ nhớ lại, vẫn còn thấy hương thơm ấm áp lan toả không gì sánh. 

Tự xây đạo tràng, cố nhiên phí tổn cực lớn, việc tiếp quản tự viện tha nhân càng khiến tổn hao phí lực, khổn nạn trùng trùng.

Tôi xưa nay chẳng ưa cùng người tranh chấp, cho nên chẳng muốn tiếp biện chùa họ, nhưng thường thường đều luôn gặp phải tình huống bất đắc dĩ, chính vì muốn giữ lời hứa, "bất thoái phiếu" mà tôi đã cùng một số tự viện kết duyên bất giải. 

Như Viên Phúc Tự Gia Nghĩa nguyên là một toà tự viện bị người niêm phong chờ phát mãi, vì không nỡ để chốn Phật môn thánh địa bị điêu linh, được cư sĩ Lâm Từ Siêu giới thiệu, trước phát mãi một ngày, tôi và Từ Huệ đồng đến Trạm Thuế Gia Nghĩa thương lượng, xin kéo dài thời hạn khoan phát mãi. May nhờ lúc đó gặp tiên sinh Ngụy Kiến Ngôn làm Trưởng trạm thu thuế, ông từng là đồng nghiệp với Từ Huệ ở Nghi Lan ngày xưa, nên chấp nhận gia hạn cho nửa tháng để chúng tôi lo liệu bốn trăm vạn đồng mua lại ngôi kiến trúc này.

Nhưng sau khi ngôi kiến trúc được trao tay rồi, mới phát hiện trong chùa còn có công xưởng, nhà ở... Kết quả tôi phải chịu rất nhiều vất vả để lo cho đủ gần ngàn vạn đồng phí di dời, nhằm bảo vệ toàn vẹn ngôi cổ tự trăm năm này. 

Ba mươi mấy năm trước, tiên sinh Phương Tiến Bộ bày tỏ muốn đem Phúc Quốc Tự ở Đài Nam hiến Phật Quang Sơn quản lý, thuở giờ tôi chưa từng động tâm; nhưng mấy năm nay thấy ông thành ý nồng hậu, hứa sẽ tiếp quản và phái Tâm Định qua đó tiếp thu. Lúc này mới phát hiện chùa hiện thiếu nợ mấy trăm vạn đồng. Tôi nghe Tâm Định báo cáo, thật là khó bề xoay sở, bởi vì tình hình kinh tế lúc đó, Phật Quang Sơn đào đâu ra số tiền này? Nhưng vì bản thân tôi đã ở trong tình huống "bất tri" mà đáp ứng tiếp nhận, do muốn duy trì tính cách giữ lời hứa, tôi đành phải cố gắng vạn phần, ráng è cổ hoàn trả món nợ kia. 

Những chuyện tương tự như vậy nhiều vô số, tôi đều cắn răng chịu, nhất nhất gánh vác. Kiên trì với lý tưởng thủ tín, đã hứa là không nuốt lời, tôi tuyệt không đổi thay bất tử. Nhưng vô hình chung, đức tính này đã trưởng dưỡng cho tôi tinh thần nghị lực kiên cường, khiến người cực kỳ ái kính, nể trọng. Vì vậy, nếu ai đánh mất đức thủ tín, thì không có đủ tư chất để hành đạo. 

Hơn mười năm trước, "Khu Gia Công Xuất Khẩu Đài Nam" mời tôi tổ chức một buổi diễn giảng, mới đầu tôi đáp: " Bận dữ quá, không cách chi sắp xếp hành trình được!" 

Thế là người mời liền bày tỏ rằng họ có thể chờ, sẽ cho sắp toà giảng lại vào năm sau. Khi đó, một là tôi cảm động vì thành ý của họ, hai là do thấy ngày hẹn còn xa, nên tuỳ tiện buột miệng bằng lòng.

Thời gian như bóng câu cửa sổ, một năm chớp mắt đã qua, kỳ hẹn giờ đã đến sát bên, mà lúc đó tôi lại đang ở tại Los Angeles lo cử hành Hội Nghị Tây Lai Tự, việc bàn thảo đang đến chỗ quan trọng. Dù nhiều đồ chúng khuyên tôi hãy gọi điện xin khất hẹn hoặc từ chối diễn giảng với ban tổ chức ở Đài Nam, nhưng tôi gạt phăng đề nghị này, kiên quyết giữ chữ tín. 

Do vậy mà để đáp ứng cho một buổi giảng hai tiếng đồng hồ nơi Đài Nam, tôi bắt buộc phải đi phi cơ từ Los Angeles nước Mỹ về tận Đài Loan. Xong việc rồi, ngày hôm sau phải tức tốc bay qua Mỹ lại. Tính cả đi phi cơ, tạm nghỉ, ngồi xe để thực hành cho hai tiếng diễn giảng, tôi phải tiêu mất 60 tiếng thời gian. 

Mặc dù là vậy, đến nay bản thân tôi vẫn thường lâm vào cảnh vạn nan vì tính cách quyết giữ tròn lời hứa, tôi chưa bao giờ vì mình mà để thiệt, làm lỡ việc của người, nên cũng cảm thấy rất tự hào. 

Thứ bảy 24/8/1991 tôi bị té trong nhà tắm gãy chân, sau khi phẩu thuật ở Tổng Y Viện Vinh Dân rồi, thì vào ngày thứ Ba, tôi chợt nhớ đến hai tháng trước, khi "Phân hội Phật Quang Chương Hoá Tây Phương" mời thỉnh giảng, tôi đã hẹn là tối nay sẽ chủ trì buổi giảng Phật học và làm lễ qui y. Thế là tôi ăn mặc chỉnh tề, dặn người lo chuẩn bị xe. Mặc dù đơn vị tổ chức bày tỏ là có thể hoãn kỳ hẹn và khuyên tôi cứ nghĩ dưỡng, các đệ tử chăm sóc cũng tranh nhau tình nguyện đi thay, nhưng tính cách "một khi đã hứa, vĩnh viễn chẳng rút lời" của một đời tôi, đã khiến tôi phải thuyết phục đại chúng ủng hộ mình. 

Nhớ lúc đó ở Đài Loan nơi công cộng phương tiện còn thiếu thốn nhiều, tôi ngồi xe lăn, chạy dằn xóc duyên theo con đường tắt lối om om đi đến giảng đài Trung Tâm hoạt động Văn Khai Quốc Tiểu. Thấy hàng ngàn tín đồ đã chờ sẵn tại đây, tinh thần khát pháp của họ khiến tôi không ngăn được tự nhủ lòng: “May mà mình đích thân tới, mặc dù nhiều điều bất tiện, nhưng tính ra chẳng đến nổi xui xẻo phụ lòng trông mong của tín chúng!”  

Nửa tháng sau, thứ Bảy Ngày 7 tháng 9, tôi lại đúng hẹn đi đến Đài Bắc Trung Ương "Hội Nghị Thính Đồ Thư Quán Quốc Tế", vì "Hiệp Hội Trung Quốc Văn Nghệ" chủ trì buổi giảng. Khi hội giả nhìn thấy tôi đến, không ai là không cảm động rơi nước mắt, cả hội trường chìm trong bầu không khí cảm động, càng khích lệ dũng khí tín tâm trong tôi.

Do hai lần diễn giảng tôi đều phải ngồi xe lăn nên rất khó khăn. Lòng thầm sợ tháng mười này giảng tại Đông Kinh (Nhật bản) sẽ làm phiền người rất nhiều, do vậy tôi gọi điện cho bên Đông Kinh. Ai dè tiên sinh Cát Điền Thật, ký giả của báo "Triều Nhật Tân Văn" bên Nhật Bản cùng các nghị viên quốc hội, cứ thiết tha nài nỉ, bày tỏ là sẽ tình nguyện phục vụ đủ kiểu... do vậy mà tôi chỉ còn nước đích thân đi dự hội.

Thứ Bảy Ngày 28 tháng 10, lúc tôi đến Quốc Hội Đại Khánh ở Nhật Bản, nhờ các tiên sinh Nghị viên không hiềm tôi bất tiện, đồng tâm hiệp lực khiêng tôi lên trên đài, khiến lần giảng này được hoàn thành viên mãn. 

Thứ Ba, ngày 19 tháng 11 vì phải giảng ba ngày cho "Viện Thể Dục Hồng Khám" tôi phải bay sang Hương Cảng. Cảm tạ mỹ ý Công Ty Hàng Không Trung Hoa, đã đặc biệt dùng máy thăng giáng đưa tôi lên phi cơ. Sự hỗ trợ của họ đã giúp tôi làm trọn tâm nguyện giữ đúng lời hứa, đến nay tôi vẫn còn nhớ ơn mãi.

Đầu năm 1994, tôi tuyên bố là "Đại Học Phật Quang" sẽ khai giảng năm 1996, nhưng không ngờ gặp khổn nạn khó sánh, toàn do Công Ty Trung Hưng Công Trình tạo ra, Bộ Nội Chính Bảo vệ môi trường, Bộ xây dựng, cùng các học giả, chuyên gia... đánh giá rằng phải hơn hai năm, mới có thể cấp phép cho các việc phức tạp này. 

Mắt thấy không thể đúng hẹn khai trường, trong lúc lòng tôi nóng như lửa đốt, thì hay tin bên quản lý Học Viện Nam Hoa tuy có giấy phép xây dựng kiến trúc nhưng trong nội bộ xảy ra vấn đề nên vô cách tiến hành. Cho dù tiền tu sửa tốn đến con số ức mới có thể thành sự, nhưng vì lời hứa thực hiện việc khai học, nguyện mãi mãi làm một người không nuốt lời, tôi không nề tất cả khổn nạn, dũng cảm tiến lên. 

Ngày 28/9/1996, trước sự chứng kiến của ngàn vạn người, tôi đúng hẹn khai trường, nhờ phúc phu nhân tổng thống Liên Phương Thụy, quang lâm đến đọc diễn văn, bà hướng mọi người nói: "Đây là ngôi trường Đại Học Trung Hoa Dân Quốc đầu tiên trong lịch sử tới nay không thu học phí tạp..." và các quan viên của bộ giáo dục đã rất kinh ngạc bảo tôi:

- Tốc độ tổ chức biện học thế này quả là một kỳ tích trong lịch sử thế giới giáo dục!

Nhớ lại lúc Từ Huệ đến bộ giáo dục thưa thỉnh, nhân viên biện sự có lòng tốt khuyên bảo:

- Mở Đại học là một việc tương đối gian khổ, hơn nữa rất vất vả khó khăn, Đại sư Tinh Vân xưa nay làm việc bất thoái lui, nếu lỡ làm không tốt, sẽ nhân đây mà bị phá lệ, vì vậy hãy suy nghĩ cho thật kỹ đi!

Nhìn lại đúng mấy năm nay gian lao không bút mực nào tả xiết, nhưng tất cả vẫn không ngăn được lý tưởng thủ tín giữ lời, vĩnh viễn bất hồi lui của bản thân tôi, nhờ vậy mà lòng cảm thấy có chút an ủi. 

Tôi cả một đời bất vãn hồi, bất thoái phiếu, nếm đủ kinh nghiệm vượt qua từng giây từng phút để đúng hẹn. Hơn nữa vì thủ tín mà thường xuyên phải bôn ba trên đường bay không trung, dù nhọc mệt vẫn ráng cố chịu. Có một dạo việc sắp xếp hành trình bị sai thất, khiến tôi phải ngay trong một ngày, đi tới hai nơi cách xa nhau: Giữa ngọ đến chủ trì diễn giảng, dự tố trai làm thiền tại Đạo Tràng Đài Bắc với các viên chức nghệ sĩ; rồi phải tới Đạo Tràng Đông Hải ở Đài Trung dự Hội bán tranh từ thiện và chiêu đãi ký giả. Hai nơi cách nhau 200km, theo cách nhìn của mọi người thì căn bản là khó thể đáp ứng tất cả, thêm nỗi hai bên Ban tổ chức không ai chịu nhượng ai. Vì muốn tránh tranh chấp, tôi chỉ còn nước cho họ cái hẹn: 10g30 ghé Đài Trung, 13g30 đến Đài Bắc. Thời gian giảng chẳng bàn đến, chỉ lấy trong ngày mà tính, đây cũng là việc vạn phần khó khăn, nhưng tôi vẫn y hẹn ráng sức làm, kết quả đúng giờ tôi đến, khiến mọi người đều đại hoan hỉ.

Tình huống tương tự thế này xảy ra rất nhiều, tuy nếm trải nhiều lần, song vì xưa nay tôi luôn theo tôn chỉ xử sự đối nhân phải cho người niềm tin, cho người hoan hỉ, cho người hi vọng, cho người phương tiện, nên không những tôi vui vẻ cam tâm thực hiện tất cả, luôn nỗ lực vãn hồi cục diện, vì muốn đồ chúng lỡ an bài hành trình được an tâm, tôi còn an ủi họ: Không sao, đã lỡ hẹn rồi, thì ráng giữ vậy, không nên hồi lại! 

Ai ngờ họ lại thường theo đó mà chế định, còn tôi vì muốn giúp họ đạt đến mỹ đức không nuốt lời, cho nên ráng nhẫn nại phối hợp. Cho dù thủ tín vất vả gian khổ là thế, song biết trân quý uy tín, biết giữ lời hứa, không những làm tăng thêm tư cách cho bản thân mình mà cũng giúp thành tựu tốt cho người. Vì vậy trọn đời tôi vẫn vô oán vô hối đáp ứng cho tất cả. 

Trong ký ức, khi hành trình đã định xong, tôi chưa từng sai hẹn. Hễ mua vé xe buýt, xe lửa, máy bay, vé tàu rồi... thì tôi chưa bao giờ có chuyện trả vé, hồi lại. Tuy là tôi thường vì những chuyện này mà gặp nhiều khốn đốn, nhưng tôi luôn cảm thấy bản thân mình không thể vì lý do phiến diện mà thất tín với người. Cổ Đức nói: "Nhân ngôn vi tín", nếu lời người nói ra không thể tin thì chẳng phải là người rồi. Không nên để xảy ra hối tiếc! Nhiều người làm việc thường để xảy ra hối tiếc, vì thường hay trả phiếu, nuốt lời, hồi lời... kết quả một đời luôn nằm trong day dứt bất toàn. 

Thực ra hối tiếc vì nuốt lời, thất tín, là vô ích. Chỉ có chấn chỉnh tinh thần, tự hứa kiên quyết giữ lời, phát thệ vĩnh viễn không thất hứa, không hồi lui và ráng giữ vững điều này cho đến cùng, thì mới có nhân cách viên mãn.

 

 



[1]
Nguyên văn tựa đề chương này là "Vĩnh bất thoái phiếu" nghĩa là vĩnh viễn không trả lại vé, hàm ý thủ tín, không thu hồi những gì đã hứa, giống như không trả lại vé một khi đã mua. (Lời người dịch).

[2] 黎姑 – Một phụ nữ Mã Lai.