Văn xuôi

NGƯỜI SAY ĐẾN CHÙA NGHE PHÁP

Quảng Tánh

03/04/2017

Có lẽ ai cũng biết đến một trong năm nhân cách của người Phật tử là không uống rượu. Nói đủ là không dùng những chất gây nghiện, say sưa… dẫn đến tình trạng mất tự chủ thân tâm. Thời xưa chưa có những hóa chất gây say nghiện như bây giờ, chỉ có rượu mà thôi, nhưng đã khiến cho bao người mê mẩn cùng không ít hệ lụy.

Từ thuở Đức Phật còn tại thế cho đến ngày nay, thỉnh thoảng có một vài quý ông sau khi đã thấm hơi men rồi lân la đến chùa “tầm sư học đạo”. Tuy thấy cũng… mắc cười nhưng không phải chuyện lạ. Còn quý bà, sau khi uống rượu mạnh, mắt mơ màng, chân bước liêu xiêu, không chỉ một bà mà có đến 500 bà cùng nhau kéo đến chùa nghe pháp thì quả thật là thách thức và áp lực.

Chuyện như vầy[1], lúc Phật trú tại Jetavana (nước Savathi), bấy giờ Visàkhà là một trong những nữ Phật tử thuần thành, đại thí chủ hộ pháp đắc lực thường đi nghe Thế Tôn thuyết pháp. Visàkhà có 500 bà bạn rất thích nghe pháp và cúng dường nhưng cũng rất ham vui, nhất là thú uống rượu mạnh. Hôm đó, Savathi có tổ chức một tiệc rượu lớn, hát múa tưng bừng, các bà rủ Visàkhà tham dự, nhưng nữ Phật tử từ chối vì bận đi nghe pháp. Thế là họ kéo nhau đi uống ăn thỏa thích. Trớ treo là uống xong bà nào cũng lâng lâng nhưng lại không về nhà mà theo chân Visàkhà đến tịnh xá Jetavana cùng diện kiến Thế Tôn. Lúc ấy Ngài đang thuyết pháp.

Có thể hội chúng hôm ấy tại Jetavana là hội chúng ồn náo và rắc rối nhất. Các bà kéo đến tịnh xá cung kính đảnh lễ Thế Tôn, ngồi xuống một bên nhưng không thanh tịnh và trang nghiêm như thường lệ. Mặc dù họ không cố tình quậy phá nhưng men rượu ngây ngất như còn thoang thoảng đâu đây, âm nhạc du dương dập dìu mời gọi, pháp âm của Thế Tôn nghe lúc được lúc không, tất cả như tan chảy, nhạt nhòa… Rồi đột nhiên, một vài bà không kiềm chế được mình, vụt đứng dậy lắc lư uốn éo, cất lên những khúc tình ca ngọt ngào du dương trầm bổng. Lại có bà không còn ý tứ, vung vẫy tay chân, gọi nhau í ới và thậm chí còn cãi vã, to tiếng với nhau nữa. Khung cảnh hội chúng thật vô cùng vọng động, bất an trước đây chưa từng xảy ra.

Cũng may mà có Thế Tôn và chư Thánh chúng. Nếu ngày nay chúng ta gặp nhiều trường hợp này chỉ còn cách rút điện thoại bấm … 113, mà cũng chưa chắc đã xoay trở được và làm chủ tình hình, vì có đến 500 bà đang ngà ngà say.

Để ổn định Đạo tràng đặc biệt có nhiều người say này, Thế Tôn đã sử dụng đến thần thông. Từ giữa chặn mày, Phật phóng một đạo hào quang sáng lòa làm tất cả chói mắt. Kế tiếp, bầu trời trở nên đen kịt như sắp đổ sập đến nơi. Các bà ai nấy đều hốt hoảng thất kinh vì sợ chết, nhờ đó mà tỉnh rượu. Liền đó, Thế Tôn rời khỏi pháp tòa, bay lên giữa hư không, phóng hào quang rực rỡ, nói kệ cảnh tĩnh:

Ở đây không phải chốn vui cười
Lửa dục đốt tan mọi cảnh đời
Sao mãi chìm thân trong bóng tối
Không tìm ngọn đuốc, nẻo đường soi

Kỳ lạ là sau khi nghe xong bài kệ, 500 bà uống rượu mạnh quậy tưng kia liền đắc sơ quả Tu-đà-hoàn, dự phần vào dòng Thánh.

Chúng ta đều biết rằng, Thế Tôn rất ít khi thi triển thần thông, trừ những trường hợp hết sức đặc biệt. Một vài người say đã làm kinh động xóm làng, khó mà im lặng khuyên họ im lặng trật tự, huống gì có đến 500 người say. Mà ông say còn dễ xoay xở chứ bà say lại càng khó cho các Tỳ-kheo nếu phải dàn xếp. Cho nên, chuyện các bà say tập thể rồi kéo đến chùa là nghiêm trọng chứ không phải chơi. Vì thế nên Phật phải thị hiện thần thông, ngay lập tức cắt đứt cơn say, khiến các bà bừng tỉnh.

Khi đạo tràng đã ổn định, các bà ai nấy đều tỉnh rượu sếp hàng ngay thẳng.

Thế Tôn nhắc nhở khiển trách nhẹ nhàng: Chùa chiền tịnh xá là nơi tu tập, thực hành thiền định, lắng nghe giáo pháp chứ đâu phải chỗ vui chơi. Sao các bà lại cam tâm sống chìm trong bóng tối, ngày đêm bị lửa dục thiêu đốt, mà không tìm cho mình con đường sáng, thắp lên ngọn đuốc trí tuệ soi sáng cho đời mình an vui, hạnh phúc? Lời Phật như suối nguồn cam lộ tưới tẩm những tâm hồn hoang vu, khoa khát trở nên mát mẻ, bình an. Không chỉ nghe qua tai, dòng Pháp âm như ngấm vào máu, lan tỏa đến từng tế bào, khiến cho tâm hồn họ bừng tỉnh, cuộc đời họ thay đổi, sự sống hồi sinh.

Không chỉ tỉnh rượu, 500 bà kia còn tỉnh giấc mộng trường sinh tử, chứng Tu-đà-hoàn. Thực ra, say rượu lúy túy tuy thảm hại mà hôm sau tỉnh. Say đời thì có khi muôn kiếp cũng chưa tan. Cho nên tỉnh rượu thì dễ nhưng tỉnh thức giác ngộ khó hơn đến vạn lần. Ví vậy mà Thế Tôn luôn bi mẫn, khuyến tấn họ nỗ lực chuyển hóa, khai thị cho họ mở toang mắt Pháp trong sạch, nhận thức rõ ràng chánh pháp, chứng quả Dự lưu. Dẫu rằng, Sơ quả là quả vị thấp nhất trong bốn quả Thanh văn, nhưng bước vào địa vị này là thể nhập dòng Thánh. Không còn trôi lăn trong sinh tử nữa. Từ đây, bậc thánh Tu-đà-hoàn từng bước tiến vào quả vị giải thoát của La-hán, Phật-đà.

Người đạt quả Dự lựu phải đoạn trừ ba kiếp sử đầu tiên: Thân kiến, hoài nghi và giới cấm thủ. Trước hết là thành tựu cái thấy như thật về thân và tâm này. Người ấy không còn xem thân này là một thực thể riêng biệt, trường tồn. Kế đến, người ấy không còn hoài nghi về Tam bảo và chánh pháp. Sau cùng, người ấy không còn các ảo tưởng về giải thoát tối hậu có thể đạt được nhờ các hình thức lễ nghi bên ngoài hay các giới điều trói buộc. Như vậy, chứng đạt quả Dự lưu không phải là chuyện tầm thường. Cho dù là người xuất gia, nếu không hội đủ căn lành để tinh tấn thì chưa chắc trọn một đời tu đã chứng được.

Chuyện 500 bà bạn của Visàkhà đắc sơ quả Tu-đà-hoàn thật thú vị và hy hữu. Thế Tôn đầy đủ từ bi và trí tuệ nên ngài thấy rõ mầm giác ngộ nơi những Phật tử ham vui và chếnh choáng hơi men kia mà ra tay cứu độ, đưa họ về bến giác. Mới hay sinh tử và Niết-bàn cũng chẳng đâu xa, mê và ngộ chỉ cách nhau chừng một niệm, đối với những người có đủ căn lành.

Ngày nay, những người đệ tử Phật chúng ta thường hay mặc cảm vì phước mỏng nghiệp dày, tự ty bởi tội chướng vô lượng vô biên. Tuy sinh ra đời cách Phật đã xa, không được gặp Ngài để nghe pháp, nhưng chắc chắn mỗi ngày chúng ta vẵn có thể gặp Thế Tôn trong kho tàng chánh pháp, để được thấm nhuần ân đức từ bi của Ngài mà chuyển mê khai ngộ.

Nguồn: Báo Phật giáo Đồng Nai