Hoa Nghiêm Kinh Thám Huyền Ký Q6

THẬP VÔ TẬN TẠNG CỦA BỒ-TÁT - Phẩm 18

24/06/2017


HOA NGHIÊM KINH THÁM HUYỀN KÝ

Quyển 6

THẬP VÔ TẬN TẠNG CỦA BỒ-TÁT

Phẩm 18
(Xem tại đây)

Sa-môn Pháp Tạng thuyết

Chân Hiền Tâm Việt dịch
 
 

Cũng có 4 môn phân biệt như trên.

I. GIẢI THÍCH ĐỀ TỰA


Nêu biệt pháp của người nên nói Thập tạng của Bồ-tát, không phải do nhân và pháp hợp lại, lấy đó làm đề tựa. Nghĩa là, 10 loại đó là pháp sở hành của chư Bồ-tát. Thập tạng của Bồ-tát, là y nơi chủ mà lập tên.

1/ Số đầy tròn, y đó mà nói thập. Hàm nhiếp ẩn chứa xuất sinh, gọi là tạng. Trong mỗi tạng này bao hàm pháp giới thể không có hạn phần, nên nói vô tận.

2/ Mỗi một tạng đều nhiếp tất cả hạnh tướng, nên nói vô tận.

3/ Mỗi một tạng đều hay xuất sinh quả đức không cùng kiệt, nên nói vô tận. Vô tận tức là tạng, thuộc Trì nghiệp thích. Ứng vào Thập thì thuộc Đới số thích. Ứng vào Bồ-tát thì thuộc Y chủ thích. Đó là ba loại thích có thể biết.
    

II. DỤNG Ý

Có 5 nghĩa :

1/ Vì trả lời câu hỏi Phổ quang thập tạng.

2/ Trước đã nói chánh vị, nay y nơi vị khởi hạnh,đồng với phẩm Phạm hạnh nói trên.

3/ Trước là ứng vào biệt hạnh củaa vị mà nói, đây thì nói vể hạnh thông cả trước sau.

4/ Trước là hạnh vị thành lập, nay nói về tịnh trị hạnh đó. Đồng với Thập địa đẳng Tín đẳng thập hạnh.[1] 

5/ Trước là Tự phần cứu cánh, đây là Thắng tiến thú hậu. Đồng với phẩm Minh pháp trên. Y theo câu hỏi thì ứng ở sau Hồi hướng. Nay ở đây, nói về tạng, có hai nghĩa : Ứng vào nghĩa ấm nhiếp thì ở sau Thập hạnh. Ứng vào nghĩa xuất sinh thì ở sau Hồi hướng. Nghĩa thông cả hai chỗ, hỏi đáp hiển nhau.      


III. TÔNG THÚ

Làm thành 2 môn :

1/ Tổng biện về nghĩa tạng : Có khi một, là đồng với pháp giới tạng. Có khi hai, là đại và tiểu. Có khi ba, là Khế kinh v.v… đều là Tam thừa v.v… Có khi bốn, là gia tạp tạng. Có khi năm, là danh tướng v.v… Có khi sáu, là đại và tiểu, mỗi thứ có ba. Có khi chín, là Độc giác cũng có ba. Có khi mười, như ở phẩm Ly Thế Gian nói sau. Có khi vô tận như ở phẩm này.

2/ Biệt hiển tông này : Trong đó chính là mười loại hạnh pháp bao gồm cả trước sau. Đầy đủ Phổ Hiền pháp giới hạnh đức là tông thú của phầm này.      

IV. GIẢI THÍCH VĂN KINH


Chung cả văn và nghĩa, tổng làm 6 môn : 1/Nêu số. 2/Giải thích tên. 3/Thể tánh. 4/Nhiếp hạnh. 5/Giải thích tướng. 6/Kết và tán thán. 


1/ Nêu số
: Công Đức Lâm thuyết, vì là hội chủ. Cũng là biểu trưng hạnh pháp này, các đức kiến lập. Ba đời đồng thuyết, vì Phật xuất hiện tuy khác nhưng đồng thuyết Thập tạng, hiển hạnh của mười loại pháp giới như ba đời đại vương lộ không khác, nên nói đồng thuyết.


2/ Giải thích tên
: Tổng, thì như trước đã nói. Trong phần biệt :

Tín, là với thật đức có thể thâm nhẫn dục lạc, tâm tịnh làm tánh. Đối trị bất tín, ưa thích thiện là nghiệp. Do đây, hàm nhiếp xuất sinh các đức, nên nói là tạng. Đây thuộc Trì nghiệp thức. Sau đều đồng với đây.

Giới, phòng phi gọi là giới. Ba nghiệp thiện làm tánh. Dừng ác làm thiện là nghiệp.

Tàm,  là y nơi tự pháp lực, sùng trọng hiền thiện làm tánh. Đối trị vô tàm, dừng ác hạnh là nghiệp.

Quí, là y nơi thế gian lực, khinh chê chóng lại bạo ác làm tánh. Đối trị vô quí, dừng ác nghiệp là nghiệp.

Văn, là 口食 dạy rộng nghe nhiều làm tánh, sáng suốt làm nghiệp.

Thí, 輟已惠人 không tham tư làm tánh, phá keo kiết làm nghiệp.  

Tuệ, là đối với cảnh sở quán giản trạch làm tánh, đoạn nghi làm nghiệp.

Niệm, là đối với cảnh tằng tập khiến tâm nhớ rõ chẳng quên làm tánh, định y làm nghiệp.  

Trì, là nhậm trì niệm tuệ đã nhớ làm tánh, qua lâu không quên làm nghiệp.  

Biện, là khéo tuyên thuyết sở trì, lấy tuệ làm tánh, ứng cơ làm nghiệp.  

Trong 10 thứ trên, tín, tàm, quí, niệm, tuệ, 5 thứ này đều ngay thể mà được tên. 5 thứ còn lại thì y nơi công năng mà nhận tên. Giới và thí thì từ hạnh dụng lập tên. Văn, trì, biện thì lấy trí dụng làm mắt.     


3/Thể tánh
: Có 2 môn :

3/1 Ứng vào tướng : Tín, tàm, quí là ba pháp trong mười một thiện, đều lấy đương thể làm tánh.  Niệm và tuệ là hai pháp trong năm biệt cảnh, cũng lấy đương thể làm tánh. Giới thì lấy tam nghiệp thiện tư cùng biểu và vô biểu làm tánh. Thí, lấy vô tham tương ưng với tư làm tánh. Theo luận Trí Độ thì trì, lấy định tuệ làm tánh, còn văn và biện, hai thứ này đều lấy tuệ dụng làm tánh.

3/2 Ứng vào dung thông : Tổng, là hạnh của nhất pháp giới, tùy nghĩa mà nói mười:

1/ Nghĩa pháp giới tánh tự trong tịnh như châu thanh thủy.

2/ Nghĩa pháp giới tánh tự ly lỗi.

3/ và 4/ Đều là nghĩa pháp giới tánh năng diệt lỗi.

5/ Nghĩa pháp giới nhiếp đức rộng nhiều.

6/ Nghĩa pháp giới tự tánh phóng xả.

7/ Nghĩa pháp giới tự tánh khai giác.

8/ Nghĩa pháp giới tự tánh minh chiếu.

9/Nghĩa pháp giới tự tánh nhậm trì.

10/ Nghĩa pháp giới tùy duyên ứng cơ.

Cho nên, nhất pháp giới là tánh.  


4/ Nhiếp hạnh
: Phân làm 7 môn.

4/1 Ứng vào hai lợi mà phân biệt : Luận riêng thì chín thứ trước là tự lợi, một thứ sau là lợi tha. Luận chung thì đều đủ hai lợi.

4/2 Ứng vào gốc và ngọn mà phân biệt : Một thứ đầu là gốc của hạnh, nên trên nói «Tín là nguồn của đạo, là mẹ của công đức …». Còn lại đều y đó mà thành, nên là ngọn.

4/3 Ứng vào chánh và trợ mà phân biệt : Tuệ là chánh, các thứ còn lại là trợ.

4/4 Ứng vào tư (資) và đạo (導) mà phân biệt : Tuệ là năng đạo, các thứ còn lại là sở đạo. Các thứ còn lại là năng tư, tuệ là sở tư. 

4/5 Ứng vào tài và thủ mà phân biệt: Bảy thứ trước là bảy thánh tài do niệm trì thủ hộ khiến không tổn thất, do biện phán trí (販致) khiến được tăng trưởng.  

4/6 Ứng vào hạnh tướng mà phân biệt: Bốn thứ đầu là hạnh lìa lỗi : 1/Gốc. 2/Phòng ngọn khởi lỗi. 3/ và 4/ Dứt lỗi đã khởi. Sáu thứ còn lại là hạnh tu thiện. Văn, là bắt đầu tu. Thí là tu kế, lục độ đều tu nên vừa nêu đầu vừa nêu cuối,[2] trung gian có thể tự biết. Ba thứ sau tu cuối cùng. Hai thứ đầu là tự thành thục. Một thứ sau là hóa tha.

4/7 Ứng vào  thứ lớp sinh khởi mà phân biệt : Tín là bước đầu nhập pháp, nên nói trước. Y tín khởi hạnh thì lìa lỗi là đầu, nên kế nói về giới. Giới có khi có phạm, sinh sâu tàm quí trang nghiêm giới hạnh khiến được trong sáng, nên nói có hai bạch pháp có thể cứu lỗi chúng sinh. Đã phòng lìa mà muốn tăng thiện phẩm, cần lấy văn (nghe) quảng bác làm đầu. Để cầu sở văn cần thí xả tự nội ngoại. Đã quên cái riêng vì pháp thì nhất định chánh tuệ hiện tiền. Chánh tuệ đã hiện thì phải hòa niệm tăng sáng. Chánh niệm đã sáng thì cần trì nhớ để được lâu. Trì đã không quên thì cần phải biện thuyết với người khiến hai lợi hạnh được viên tròn mới là cứu cánh. 
            

5. Giải thích tướng: Giải thích Thập tạng có 10 đoạn :


PHÂN ĐOẠN 1

Tín tạng có bốn : 1/Nêu. 2/Giải thích. 3/Kết. 4/Tán thán.  

1/ Nêu: Câu Thế nào là Bồ-tát ma-ha-tát…?

2/ Giải thích: Có hai : 1/Nói về tu tướng. 2/Nói về tu thành tựu.

2/1 Tu tướng: Đoạn «Bồ-tát này tin tất cả … không loạn». Có ba : Trước là đối pháp khởi lòng tin. Kế, do tín nên nghe pháp không sợ. Sau, giải thích lý do không sợ. Cũng có thể giải thích : Trước là tin lý pháp. Kế, là tin giáo pháp. Sau, là tin quả pháp.

a/1. Tin lý pháp : Đoạn «Bồ-tát này tin … bất sinh». Có 10 pháp.

3 pháp đầu là tin Sở chấp vô tướng. Không, vì tình hữu lý không, nên gọi là không. Không, không có tướng không, nên nói vô tướng.Vô tướng nên vô nguyện (không chỗ nguyện cầu).

3 pháp tín kế là Y tha vô sinh : Một, là duyên khởi vô tác. Hai, là như huyễn không thật. Ba, là không thể tánh tự giữ.

4 tín sau là Viên thành vô tánh. Một, là tánh đức vô lượng. Hai, thù thắng nên vô thượng. Ba, thâm sâu không thể đến. Bốn, thường bất sinh. Lại, trong tất cả pháp, lượng bất khả đắc, thượng cũng không thể thượng được. Văn kinh nói «Thượng tướng bất khả đắc nên nói là vô thượng» là nói chỗ này.
a/2. Do tín nên nghe pháp không sợ : Đoạn «Bồ-tát này thành tựu …». Có 10 câu.

2 câu đầu, …nghe pháp … nghe Phật …,  là với pháp thù thắng không sợ.

4 câu kế, là với pháp rộng nhiều không sợ. Chỗ giáo hóa là gì? Là chúng sinh giới. Dùng pháp gì giáo hóa? Là pháp giới. Xứ giáo hóa nào? Là tận hư không giới. Giáo hóa đến chỗ nào? Là niết bàn giới.

4 câu sau, là với pháp sâu rộng không sợ. Vì tam thế nhập kiếp làm thập thế. Không thể nghĩ bàn trong 10 câu đó, có hai nghĩa :

1/ Vô sở hữu mà nói hữu, nên phi khả hữu, không chỗ có thể nghĩ bàn.

2/ Mười pháp đó đều vô biên vô tận không còn vị trí có thể biết, nên nói không thể nghĩ bàn.

Cũng nhờ hai tín nên nghe mà không kinh sợ :

1/ Do tin đạt lý tam tánh và tam vô tánh nên nghe môn đầu không sợ.

2/ Do kính tin Phật trí bình đẳng vô lượng vô biên, đã là chỗ biết của Phật trí, ta cũng tin theo, nên nghe môn sau không sợ.

Nghĩa đầu như trước đã nói. Nghĩa sau trong phần giải thích sẽ nói.         

a/3. Giải thích lý do không sợ : Đoạn «Vì sao … Như Lai thừa». Trước hỏi sau giải thích.

Vì Bồ-tát đối với …, là hiển tâm tin Phật kiên cố.

Phật như thị tri…, là nói về 10 pháp trên, là chỗ biết của Phật trí, nên nói Phật như thị tri. Cảnh đó rộng lớn, Phật làm sao biết? Vì Phật trí cũng như cảnh kia, vô tận vô biên. Chỗ đó Phật đã biết, Bồ-tát tin Phật nên không sợ.

Tất cả thế giới … , giải thích Phật trí là sở do đáng tin. Tất cả thế giới …, là đại dụng không hư dối, nên đáng tin. Trí tuệ chư Phật đó…, là tự thể không tăng giảm nên đáng tin. Trong đó có 10 cái không, hiển Phật trí không phải là pháp sinh diệt, đồng với vô vi.       

3/ Tu thành tựu: Đoạn «Bồ-tát thành tựu vô biên…». Có hai : Tổng và biệt.

3/1 Tổng : Bồ-tát thành tựu vô biên …  , là thừa Như Lai thừa, thú hướng Phật quả.

3/2 Biệt : Đoạn : «Bồ-tát thành tựu vô lượng … ». 

a. Thành hạnh thể : Có 8 câu :

Thành tựu vô lượng …, là ứng với sở tín nên vô biên.

Tín bất thối chuyển, vì thể kiên cố.

Tín bất loạn, vì chỗ tin không tạp loạn. 

Tín bất hoại, vì duyên không thể ngăn trở.

Tín bất trước, vì tin sâu ly tướng.

Tín hữu căn,[3] vì tín từ duyên khởi. Kinh Niết Bàn nói: «Từ văn tư sinh». Lại, có tuệ mà tin, gọi là hữu căn (có nguồn gốc). Không tuệ mà tin thì tăng trưởng vô minh, không tin mà có tuệ thì tăng trưởng tà kiến. Tín tuệ đầy đủ mới được nhập pháp. Lương Nhiếp Luận q.11 nói: «Do Bồ-tát tự chứng thí mà hành thí, không do tin người mà hành thí». Trước, tin hữu căn nên thành tín. Sau, tin vô căn nên không thành tín.     

Tín tùy thuận thánh nhân, là thuận đồng với thánh xưa.

Tín Như Lai gia tánh …, là gia nghiệp pháp nhĩ.

b. Hiển công năng của hạnh: Có 4 câu:

Hộ trì tất cả Phật pháp, là năng hộ pháp.

Trưởng dưỡng tất cả Bồ-tát thiện căn, là năng tăng trưởng nhân.

Tùy thuận tất cả Như Lai thiện căn, là năng thuận quả.

Từ tất cả Phật thiện phương tiện sinh, là công đức từ Phật sinh.[4]

c. Danh kết: Câu Đó gọi là

d. Tán thán khi trụ đó : Câu Bồ tát trụ Tín tạng này …, có hai lợi có thể tự hiểu.


PHÂN ĐOẠN 2

Giới tạng có ba : 1/Nêu. 2/Giải thích. 3/Kết. 

1/ Nêu: Câu Thế nào là Bồ-tát ma-ha-tát …?

2/ Giải thích: Có hai : 1/Khai mở 10 chương. 2/Lặp lại từng chương giải thích rộng.

Ngài Quang Thống nói : Một câu đầu, là Nhiếp chúng sinh giới. 8 câu kế, là Nhiếp thiện pháp giới. Một câu sau, là Nhiếp luật nghi giới. Lại, trong phần thứ hai[5], không thọ giới ngoại đạo, quạ, gà, nai, chó v.v… Trong phần thứ tư, vì trước chẳng phạm nên sau không nghi hối. Y theo văn kinh đây, tựa như là người cố phạm tất cả giới, vì xưa kia từng tạo tội ngũ nghịch, đến nay là ác tập của họ. Kinh Niết Bàn nói : «Vì sao trì giới? Vì không hối. Vì sao bất hối? Vì hoan hỉ. Vì sao hoan hỉ? Vì vui thích …. Vì được đại niết bàn».

Trong phần không tranh : Không ăn tô muối v.v… là tiện tạo lập. Đoạn các pháp cốc, phục,[6] khí v.v… là lập chế của ngoại đạo v.v…

Trong phần bất tạp : Vì cái kiến đoạn thường mà trì giới là tạp vô minh, nên nói phạm giới.

Trong phần ly tà mạng : Tà mạng, có 4 thứ : 1/Phương khẩu thực. 2/Ngưỡng khẩu thực. 3/Duy khẩu thực. 4/Hạ khẩu thực. Lại, trong luận Thập Trụ q.2 có ghi: «Chỉ gọi là pháp ngũ tà mạng : 1/Kiểu dị. 2/Tự thân. 3/Kích động. 4/Bốc đè. 5/Nhân lợi cầu lợi».

1/ Kiểu dị : Có người vì tham cầu lợi dưỡng nên tạo a-lan-nhã, mặc nạp y, hoặc thường khất thực, hoặc nhất tọa thực, hoặc thường tọa, hoặc sau ngọ không ăn uống. Thọ các hạnh đầu đà như thế mà suy nghĩ rằng: «Làm các hạnh đó được cúng dường cung kính. Ta làm các hạnh đó thì cũng được như thế». Vì lợi dưỡng mà thay đổi uy nghi, gọi là kiểu dị.  

2/ Tự thân : Có người tham lợi dưỡng, đến nhà đàn việt nói rằng: «Như cha mẹ, huynh đệ, chị em thân thích của ta không khác. Nếu có gì cần ta có thể cho nhau, nếu có gì làm ta sẽ làm cho, ta không kể xa gần có thể đến thăm hỏi. Ta trụ ở đây tướng chính là vậy». Vì cầu cúng dường tham trước đàn việt, dùng khẩu từ dẫn dắt tâm người, các việc như thế gọi là tự thân.

3/ Kích động : Có người bất kể tội tham, muốn được tài vật, suy nghĩ đối với các vật đã được như vầy: «Bát tốt hoặc y tốt hoặc khóa cửa tốt hoặc ni sư đàn tốt này, nếu ta được thì có thể thọ dụng». Lại nói «Theo ý mà thí, người này khó được». Cũng đến nhà đàn việt nói rằng : «Nhà ông cơm canh nước thịt thơm ngon, y phục lại đẹp, phải cúng dường ta, ta vì thân cựu sẽ tiến cử cho». Thị hiện tướng tham như vậy gọi là kích động.                               

4/ Đè bốc :[7] Có người tham lợi dưỡng nên nói với đàn việt rằng : «Ông cực keo kiết, với cha mẹ, anh chị em, vợ con, thân thích còn chẳng thể cho thì với ai ông có thể cho được?». Đàn việt hổ thẹn miễn cưỡng thí cho. Lại đến các nhà khác nói rằng : «Ông có phúc đức thọ được thân người bất không, A-la-hán thường ra vào nhà ông. Ông vẫn cùng đứng ngồi nói năng». Tạo tướng niệm như vậy, đàn việt có khi sinh tâm: «Hoàn toàn không có ai ra vào nhà ta, nhất định cho ta là đó». Đó gọi là đè bốc.

5/ Nhân lợi cầu lợi : Có người lấy y hoặc bát tăng-già-lê hoặc ni sư đàn v.v… là những vật trợ sinh mà trì dạy người như «Vua vua v.v… cùng các quí nhân khác cho ta vật này». Tạo ra niệm đó, đàn việt có khi sinh tâm: «Các vua và quí nhân còn có thể cúng dường huống là ta mà chẳng cho người này». Nhân lấy lợi đó để cầu lợi khác gọi là nhân lợi cầu lợi.   

Trong phần không ác, với các pháp không hành, kinh nói : «Nếu thấy người phá giới, chẳng nói lỗi ác của họ, cần phải nghĩ người đó lâu lâu cũng được đạo».

Hỏi : Kinh Niết Bàn nói: «Thấy người phá giới cần phải mặc sấn trách mắng … Phải biết người này được phước vô lượng». Sao văn kinh đây lại bảo hộ chẳng mắng, há là nhiếp sinh?

Đáp : Đó là y cứ vào từ tâm mà mắng khiến người hối lỗi, vì căn cơ đã thuần thục. Đây ứng vào sự hộ trì, sợ lại tăng thêm ác tâm, vì căn cơ chưa thuần thục. Còn lại có thể tự hiểu.


PHÂN ĐOẠN 3 và 4

Tàm quí, kinh Niết Bàn nói: «Tàm, là hổ với trời. Quí, là thẹn với người. Tàm, thì tự không làm ác. Quí, thì không dạy người làm ác. Tàm, thì trong tự hổ thẹn. Quí, thì phát lộ hướng người». Luận Câu-xá nói: «Vô tàm là, nếu bị thiện nhân mắng mà không thấy sợ hãi, gọi là vô tàm. Không hổ thẹn, thì đối với công đức và người có công đức chẳng tôn trọng, tâm không kính sợ gọi là không hổ thẹn. Không hổ thẹn gọi là vô quí». Kinh Bộ nói: «Quán tự thân do lỗi mà không thẹn gọi là không hổ. Quán thân người do lỗi mà không thẹn, gọi là vô tàm». Cũng nói trong Du-già, Đối pháp và Duy Thức v.v…      

1/ Nêu: Câu Thế nào là Bồ-tát ma-ha-tát …?

2/ Giải thích: Phần Tàm tạng có ba :

2/1 Nghĩ về lỗi vô tàm ngày xưa của mình và người : Đoạn «Tự nhớ túc mạng…»  Trước là mình, sau là người.

Lục thân, là cha mẹ, huynh đệ và vợ con, là sáu.

2/2 Nêu lỗi tự răn : Đoạn «Tự suy nghĩ …không đáng». 

2/3 Chánh tu tàm hạnh : Đoạn «Cho nên … thành tựu bồ-đề».

Trong phần Quí tạng cũng có 3 nghĩa đồng với tàm tạng.     


PHÂN ĐOẠN 5
 

2/ Giải thích: Có hai. Trước là pháp sở học. Sau, nói về ý học.

2/1 Pháp sở học : Có hai : Trước là khai mở 10 chương. Sau là thứ lớp giải thích.

4 thứ đầu, thứ này có …, là ứng vào Thập nhị duyên sinh. Lý thật, xuất thế gian cũng có ngũ ấm vô thủ. Nay thủ ấm này là y vào khổ tích tập, nên là thế gian. Ứng vào Tiểu thừa cũng được.  Lại, ngũ phần pháp thân lật lại ngũ uẩn trên, nên là xuất thế gian. Lý thật thì hữu vi cũng thông các vị khác. Nay thủ tam giới và chúng sinh đều là việc làm của hoặc nghiệp, nên là hữu vi.

Trong pháp vô vi :

1/ Khai và hợp : Có khi chỉ nói ba, là hư không, trạch diệt và phi trạch diệt. Đây là ứng vào Tiểu thừa. Có khi nói bốn, là thêm chân như, như luận Chưởng-trân đã nói. Có khi nói sáu, là thêm bất động, là Đệ tứ thiền và Diệt định, như luận Bách Pháp v.v… nói. Hai thứ này là ứng vào sơ thuyết của Sơ giáo. Có khi nói tám, là trong chân như, khai triển thành thiện pháp chân như, bất thiện pháp chân như và vô ký pháp chân như. Như Du-già, Đối pháp nói. Đây là ứng vào chung thuyết của Sơ giáo mà nói.

Trạch diệt có hai nghĩa : 1/Diệt hoặc chướng, gọi là trạch diệt. 2/Diệt định chướng là bất động và diệt định. Cho nên đều nhiếp trong trạch diệt.

Nói tám, là muốn triển khai dần tất cả pháp đều là chân như, nên khai mở ba tánh là thiện v.v… toàn môn hiển thị.

2/ Giả và thật : Chỉ có chân như vô vi là thật. Các thứ còn lại đều là giả. Vì ở trên như mà giả lập, như luận Phật Địa v.v… đã nói. Trong chân như có hai : 1/An lập thị tướng phần. 2/Phi an lập phi thức hiện. Trước là giả, sau là thật.

3/ Nghĩa chuyển khác : Theo văn kinh đây thì có 6 loại vô vi :

. Sự vô xứ, gọi là hư không.

. Quả của tánh tịnh, gọi là niết bàn.

. Số đoạn kết sở đắc của vô gián đạo, gọi là số duyên diệt.

. Dư duyên không khởi, gọi là phi số duyên.

. Thập nhị nhân duyên, là vô vi. Y theo Câu-xá-luận, Tăng kỳ bộ, Độc tử bộ đều nói Thập nhị nhân duyên là pháp vô vi. Vì Như Lai xuất thế hay không xuất thế, pháp này thường trụ. Kinh bộ sư thì phá thuyết đó. Lại, pháp sư Viễn, dẫn kinh Niết Bàn giải thích: «Ngay nơi người mà luận thì ba đời lưu chuyển là hữu vi. Bỏ người mà chỉ luận ở pháp thì pháp tướng thường trụ, nên nói vô vi. Như Thập nhị nhân duyên, ấm, giới, nhập v.v… tất cả đều như thế, như kinh Niết Bàn nói». Nay giải thích như sau : Vì duyên khởi này đều không tự tánh, đều không tạo tác nên là vô vi. Kinh Niết Bàn nói: «Thập nhị nhân duyên chính là Phật tánh». Kinh Đại Phẩm cũng nói: «Bồ-tát quán Thập nhị nhân duyên giống như hư không, không thể tận …».

. Pháp giới, là Như Lai tạng thể, thật chẳng sinh diệt, nên là vô vi. Cũng là y một nghĩa chân như mà lập sáu nghĩa này: 1/Nghĩa vô tướng. 2/Nghĩa sở chứng. 3/Nghĩa hoặc tận. 4/Nghĩa tánh tịnh. 5/Nghĩa tùy duyên. 6/Nghĩa bất biến, cũng là nghĩa nhân.

Trong phần hữu ký : Tứ đế v.v… ứng với thiện, thuận với lý, nên có thể ký lục. Từ đầu chí cuối đa phần là pháp Tiểu thừa.

Trong phần vô ký : Pháp hư vọng thì không thể ký lục. Trí luận nói có 14 loại vấn nạn, đây thì 16 loại. Trong luận Câu-xá, có ngoại đạo tên là Úc-chi-ca, đây gọi là Năng Thuyết, hỏi Phật bốn câu «Thế gian là hữu biên, vô biên v.v… », là ứng vào thủy và chung mà hỏi. Bốn câu «Thường, vô thường v.v…», là ứng vào đoạn và thường mà hỏi. Sở dĩ không đáp là vì : Nếu kia chấp ngã là thế gian nhưng ngã không mà đáp thì chẳng xứng lý. Nếu chấp 4 câu tất cả sinh tử gọi là thế gian v.v… mà đáp thì cũng chẳng xứng lý. Nếu thế gian thường trụ thì không một người được niết bàn. Nếu không thường trụ thì tất cả đều đoạn diệt, tự nhiên niết bàn. Nếu cả hai, thì nhất định một phần không được niết bàn, một phần tự nhiên niết bàn. Nếu không thường, không vô thường thì nên không được niết bàn cũng không phải không được niết bàn.

Hỏi : Nếu tự được niết bàn có lỗi sao?

Đáp : Nếu tự nhiên được, là do niết bàn đến, được đạo tùy thuộc, như Ni-càn-tước-ác, chẳng thể quyết định đáp.

4 câu hỏi «Như Lai hữu dị v.v…»[8] là ứng vào buộc và thoát mà hỏi. Vì ngoại đạo chấp Phạm vương cùng với thầy mình đã được giải thoát, gọi là Như Lai. Do thấy ý của người hỏi nên Phật không đáp. Vì kia chấp ngã đã giải thoát gọi là Như Lai, đã chấp có ngã, nên Phật không đáp. Còn lại, nên tra trong luận Trí Độ, Du-già, Câu-xá, Xá-lợi-phất, A-tì-vân… đều chánh sớ, tổng kê hội đủ làm thành đó.

Câu thứ ba và thứ tư Như khứ bất như khứ… : Như Lai là, như từ trước đến (lai), về sau cũng vậy, nên nói Như Lai, không phải là Phật. 4 câu có sai biệt gì? Có người chấp thần ngã cùng với ấm là một, ấm diệt thì ngã diệt. Nếu nói trở lại Như Lai thời khứ (đi), thì lời nói đó bất thọ.[9] Có người chấp ngã cùng với ấm là khác, ấm diệt ngã không diệt. Nếu nói không có Như Lai thời khứ, thì cũng bất thọ. Có người chấp ngã thể thường như hư không. Nếu nói có khứ lai, đều bất thọ. Có người chấp ngã có thô tế. Nếu nói không có khứ lai cũng bất thọ. Vì ngã thô cùng với ấm là một, đồng diệt nên như khứ. Ngã tế cùng với ấm khác, không đồng diệt nên bất như khứ. Đều bất thọ

Hữu ngã hữu chúng Ngã là thể, chúng sinh là dụng. Do ngã có chúng sinh. Y thể có dụng. Vô ngã vô chúng sinh, thì ngược lại với trên. Hữu ngã vô ngã, hữu…, là cả hai cùng tồn tại. Không hữu ngã không vô ngã, không … , là cả hai ngược với trên.

Còn lại có thể tự hiểu.

Đại khái, từ trên đến đây, pháp sở học đều là của Tiểu thừa và ngoại đạo. Vì muốn nhân đó nhiếp chúng sinh nên sau nói về ý học.                        

2/2 Ý học : Có thể tự hiểu.


PHÂN ĐOẠN 6
 

1/ Giải thích: Có hai :

2/1 Liệt kê 10 môn : Đoạn «Bồ-tát này tu … thí pháp».

2/2 Thứ lớp giải thích : Đoạn «Thế nào là Bồ-tát… ». Mỗi mỗi đều có ba : Nêu, giải thích và kết.

Trong phần Thí pháp, do tập lâu xa từ đời trước nên ngay với thức ăn của mình cũng có tâm thí xả. Đó là, mạng là chỗ cực yếu cũng xả, thọ chịu sự yểu mạng.

Nương vào cận tử biên, gọi là Tối hậu nan. Lại, trong các thí cùng tột là tại hậu.

Trong phần Nội thí, Luân vương tráng thiếu, là muốn nói khó xả mà có thể xả.

Trong phần Nội ngoại thí, y theo Du-già thì cắt tóc, chọn bỏ v.v… là nội ngoại thí, trong đó có cả y báo và chánh báo, chỉ trừ vợ con.

 Trong phần Nhất thiết thí, có cả vợ con nên lập riêng.  

Trong phần Quá khứ thí, có ba :

1/ Nêu cảnh tham : Câu Nghe sở hành … 

2/ Dùng lý mà chánh quán : Đoạn «Nghe rồi không chấp trước… thành tựu Phật pháp», là chân quán không mà không mất phương tiện. Cũng lại quán sát …, là so sánh sự ly diệt.

3/ Chánh thành hạnh xả : Câu Bồ-tát quán …

Trong phần tam thế thí này, chỉ xả tâm tham của mình, cùng với thiện căn vô tham tương ưng, nên nhập luôn vào đây. Lại, luận thông 4 câu thì :

. Xả mà không thí, như tam thế thí.

. Thí mà không xả, như tự ăn để thí cho trùng trong thân.

. Vừa thí vừa xả, như môn trước.

. Không thí cũng không xả, như Tín tạng v.v…   

Trong phần Hiện tạiVị lai thí đều có 3 nghĩa đồng với trên. Có thể tự biết.

Phần sở tham của Hiện tại thí, trong tịnh pháp chỉ nêu đến Nhị thừa, vì với Phật và Bồ-tát hiện tại duyên thành chẳng phải chẳng cầu, nên không đồng với việc xả ly ở quá khứ và vị lai,[10] cũng chưa đến chỗ vô duyên mà khởi. Cho nên không đồng với trước.

Trong phần Cứu cánh thí pháp : Có bốn : 1/Người đến xin. 2/Bồ-tát hoan hỉ. 3/Quán thân lỗi hoạn. 4/Mở ý thành thí. Dù là vật tốt ta còn nên xả, huống là vật xấu ác này. Lại, dù là vật lợi ích ta còn nên thí, huống là thứ khiến ta được tam kiên pháp thân tài tự tại.


PHÂN ĐOẠN 7 

2/Giải thích: Có ba : 1/Minh chiếu pháp thành tuệ. 2/Minh tuệ thành tướng lợi ích. 3/Hiển nghĩa vô tận.

2/1 Minh chiếu pháp thành tuệ : Có hai : Trước là minh tuệ tự chiếu pháp. Sau, là vì người chánh thuyết.

1a. Minh tuệ tự chiếu pháp : Trước là tổng nêu sở tri. Sau, là giải thích thành tựu năng tri thâm diệu. 

1aa. Tổng nêu sở tri :  Dùng Tứ đế biết rõ 10 pháp là ngũ ấm, vô minh, ái và Tam thừa. Ngũ ấm, là ứng vào nhiễm quả. Si và ái, là ứng vào nhân. Đương tướng của 7 thứ này là « khổ ». Duyên thành là « tập ». Không tánh là « diệt ». Hiển « diệt » là đạo, vì là toàn môn hiển diệt. Lại, Bồ-tát khéo hồi hướng thành đạo đầy đủ công dụng (巧迴成道具用), nên theo luận, các hoặc (thành tựu quán phần sinh tử) là niết-bàn.[11]

3 thứ sau, ứng vào tịnh. Thanh văn là người. Tứ đế là pháp, là đạo phẩm sở hành. Hoặc tập v.v… là tập.[12] Quả sở thành là niết-bàn. Thập nhị nhân duyên là pháp Duyên giác. Pháp giới vô biên là pháp Bồ-tát.

Cũng có thể giải thích : Biết Thanh văn chính là biết khổ. Vì Thanh văn, khổ đã biết, nên chỉ nêu vị đó. Pháp sở hành là đạo đế. Nếu hoặc tập (習) v.v… chưa hết thì đó là tập đế. Đã có đoạn nên  sau pháp, nói về nó. Niết-bàn là diệt. Duyên giácBồ-tát, y theo đó có thể thấy.   

1ab. Giải thích thành tựu năng tri: Trước là ý hỏi. Biết có 2 loại : 1/Theo tướng mà biết như hàng Tiểu thừa. 2/Xứng lý mà biết, như hàng Bồ-tát. Nay, chỉ nói biết ở loại sau. Biết ra sao, nên nói Biết thế nào? Sau, là giải thích, là xứng lý mà biết. Có 6 câu :

Biết từ nhân duyên …, là tổng nêu nhân khởi.

Các hành không ngã ... không, vô sở hữu, là nói không có hai ngã. Câu trước, nói tướng không thật. Câu sau, là thể không thật.

Không thủ tướng…, là đối với pháp, ly nhiễm. Không thủ tướng kiên cố, là ứng với câu trước (vừa nói trên). Không thủ tướng sở hữu, là ứng với câu sau (vừa nói trên). Biết tất cả …, là giải thích lý do không thủ.      

1b. Vì người chánh thuyết :

Rộng vì chúng sinh thuyết pháp, là nêu.

Thế nào là tất cả pháp … trở đi, là giải thích.

Trong phần giải thích có ba :

1/ Tổng : Câu Thế nào là …

2/ Biệt : Câu Những gì …, là với 10 pháp trên lược nêu 9 môn. Vì đồng như, nên không thể hoại. 

3/ Hiển lý do : Đoạn «Vì sao?… ». Trước hỏi sắc v.v… hiện thấy là có thể phá hoại, vì sao nói không hoại? Giải thích vì từ duyên khởi, tự và tha đồng nói đều chẳng đến, nên sắc tâm đều lìa.

2/2 Minh tuệ thành tướng lợi ích : Đoạn «Bồ-tát thành tựu … ».

Bồ-tát thành tựu …, là ít công mà đạt rộng.

Tự nhiên thấu đạt …, là tự ngộ không phải người khác.  

2/3 Hiển nghĩa vô tận : Có 10 câu :

3 câu đầu Đa văn thượng …, là Tự phần. Hai câu trước, là tự lợi. Câu sau, là lợi tha.

7 câu sau Nhập thâm pháp giới …, là Thắng tiến. Trong đó, 4 câu đầu là tự lợi. 3 câu sau là lợi tha.

PHÂN ĐOẠN 8 

Niệm tạng. Trong đó có ba : 1/Đối cảnh nói niệm. 2/Hiển thắng tướng của niệm. 3/Hiển tướng lợi ích của niệm.  

1/ Đối cảnh nói niệm: Có mười.

1/ Niệm quá khứ một sinh đến nhiều.

2/ Niệm quá khứ một kiếp đến nhiều.

3/ Niệm một Phật đến vô lượng.

4/ Niệm một Phật thọ ký đến vô lượng.

5/ Niệm một Phật xuất thế đến vô lượng.

6/ Niệm từ một Phật thọ kinh đến vô lượng. 12 bộ kinh như liệt kê.

7/ Niệm một hội một thời thuyết pháp đến vô lượng.

8/ Niệm một pháp khí căn đến vô lượng.

9/ Niệm một phiền não sở trị cho đến vô lượng.

10/ Niệm một tam muội cho đến vô lượng.

2/ Hiển thắng tướng của niệm: Đoạn «Bồ-tát …». Có 10 câu :

Diệu niệm, là diệu hơn người khác.

Tịnh niệm, là phân biệt sở ký.

Bất trọc niệm, là không lẫn ám chướng.

Biến tịnh niệm, là với pháp đều rõ.

Ly trần niệm, là với sự sở niệm không sinh tham nhiễm.

Ly chủng chủng trần, là không sinh kết khác.

Ly cấu niệm, là không chấp ngã năng.

Quang huy niệm, là rộng soi không cùng cực.

Nhạo niệm, là thích tu không ngừng

Vô chướng ngại niệm, là phát ý biết ngay không  đợi tư lương.  

3/ Tướng lợi ích của niệm: Đoạn «Bồ-tát khi trụ niệm … ». Có 4 câu :

Tất cả thế gian …, là nơi thế gian khổ mà không loạn.

Các căn thanh tịnh …, là căn tịnh chẳng nhiễm.

Tất cả các ma …, là niệm kiên chẳng hoại.

Niệm trì tất cả …, là trì pháp chẳng lỗi.  


PHÂN ĐOẠN 9
 

Nghe trì tạng. Có 11 pháp :

1/ Một phẩm kinh cho đến vô lượng.

2/ Phật danh.

3/ Giới danh.

4/ Kiếp danh.

5/ Phật ký.

6/ Một bộ kinh đến nhiều bộ kinh.

7/ Hội danh.

8/ Thuyết pháp.

9/ Căn.

10/ Phiền não.

11/ Tam muội.

Sau là kết và tán thán : Chỉ là cảnh giới của Phật, là hiển nhân thâm quả triệt.


PHÂN ĐOẠN 10
 

Nói về Biện tạng. Có bốn : 1/Nêu. 2/Giải thích. 3/Kết. 4/Tán thán.

1/ Nêu 

2/ Giải thích: Có hai :

2/1 Nói về thể : Đó là trí hậu đắc thậm thâm.

2/2 Nói về công năng : Có hai : 1/Tự phần. 2/Thắng tiến.

a. Tự phần: Có hai :

Rộng vì chúng sinh…, là tổng hiển.

Đoạn «Thuyết pháp một phẩm… », là biệt luận. Trong đó có hai : Trước là nói về thuyết tự tại, là nói về 10 pháp sở trì trước. Sau, …(xem lại sách)

b. Thắng tiến: Đoạn «Bồ-tát này thành tựu …»  Có hai.

Dùng pháp quang minh…, là tổng hiển. Đó là dùng pháp quang diễn thuyết thâm pháp.

Đoạn «Dùng lưỡi rộng dài… » , là biệt luận. Có hai :

1/ Diễn huyết vô ngại : có 4 câu :

Dùng lưỡi rộng dài …, là lợi ích của thuyết.

Khéo nhập…, là đối với giáo được tự tại.

Nhập pháp môn …, là đối với nghĩa được tự tại.

Không bỏ chúng sinh …, là không mất tự hạnh.

2/ Giải thích lý do vô ngại : Đoạn «Vì sao …». Vì vị này chính là Cứu cánh vị, nên thành tựu pháp thân thanh tịnh đầy khắp pháp giới hư không. Là chân thân vô cấu nên nói tịnh.

2/3 Kết : Đoạn «Tạng này vô lượng … ». Có 10 câu.

. Vô lượng, là nhiều môn.

. Không phần hạn , là mỗi mỗi đều vô biên.

. Nhiều môn vô gián.

. Hòa tạp không hoại.

. Tự thể không đoạn.

. Không bị duyên đoạn vì không phải là pháp có thể đoạn.

. Lời nói không khiếp sợ.

. Thênh thang[13] thậm thâm.

. Mênh mông không đáy.

. Nhiếp pháp giải thích thành tựu.

2/4 Tán thán:

Đó là 10 loại …, là kết luận.

Đoạn “Khiến tất cả chúng sinh…”, là tán thán sự thù thắng. Trước là kết và tán thán, là khiến chúng sinh được bồ-đề. Sau, 10 môn biệt hiển, nhưng giải thích riêng thì chỉ có 7 câu. Mỗi câu đều có nêu và giải thích.

Nhiêu ích tất cả …, là tán thán hạnh lợi.

Không đoạn bản nguyện…, là tán thán hạnh thường.

Tâm vô lượng vô biên …, là tán thán hạnh rộng.

Hồi hướng hữu vi…, là tán thán xảo hạnh.

Tất cả pháp vô tận…, là tán thán hạnh nhiều.

Đại nguyện không thể hoại…, là tán thán hạnh kiên cố.

Chư Phật hộ niệm…, là tán thán hạnh nhập lý.

Câu Đó là 10 loại …, là tổng kết và tán thán.

Đây là phần sau nên có chứng thành và kệ tụng v.v… Văn kinh không đủ hoặc là lược bớt nên vậy. Từ trên đến đây tổng hội IV xong.

 

 
[1]同十地等信等十行
[2] Chỉ cho tuệ. Trung gian, là chỉ cho 4 độ còn lại.
[3] Tin mà có nguồn gốc.
[4] Phần in nghiêng là trích từ văn kinh ra thay cho 1,2,3,4 trong bản Hán, để dễ theo dõi.
[5] Trong phần giới bất thọ.
[6] Cốc, là ngũ cốc, cũng chỉ cho sự sống. Phục, là y phục.
[7] Đè xuống hay tâng bốc.
[8] Không thấy trong văn kinh Hán văn.
[9]若言還如來時去此語不受. Bất thọ : Không  được thọ nhận.
[10] 不同過未謝及未至無緣起故. Quá khứ và vị lai thí.
[11]故如論諸惑成觀分生死為 涅槃
[12]四諦為法。所行道品為集. Nếu dịch theo cách ngắt câu của bản Hán thì không đúng. Vì Tứ đế là đạo phẩm sở hành, không thể là tập. Như vậy phần tập, bản hán ghi thiếu. Đây là ứng vào phần kế tiếp mà thêm vào.
[13] 懸遠