Đại ý của kinh Lăng Nghiêm

ĐẠI Ý CỦA KINH LĂNG NGHIÊM

Đại sư Thái Hư giảng tại chùa Lăng Nghiêm, Gia Hưng (tháng 7, năm Dân Quốc 24) - Đồng Tiến & Chân Hiền Tâm Việt dịch.

08/02/2019

 


Gồm 5 chương

1. Phật pháp và ý dục của nhân sinh
2. Phật pháp và sự biến hiện của vũ trụ
3. Hạnh môn và vấn đề Thiền Mật nói trong kinh Lăng Nghiêm 
4. Quả vị và vấn đề đốn tiệm nói trong kinh Lăng Nghiêm
5. Trừ chướng trong kinh Lăng Nghiêm
6. Biện hoặc trong kinh Lăng Nghiêm
 
I. PHẬT PHÁP VÀ Ý DỤC CỦA NHÂN SINH


Với các dục, không buông lung, không kiềm chế, không dứt tuyệt. Đoạn trừ cáí dục thấp hèn mà phát cho được cái dục thù thắng (cao thượng). Do đó mà có phần duyên khởi của kinh Lăng Nghiêm.


Pháp, nghĩa của nó rất rộng, ngày nay người đời dùng để gọi vạn vật vạn hữu trong vũ trụ, nhưng vậy vẫn chưa bắt kịp được nghĩa rộng của chữ pháp. Pháp của pháp giới, thông khắp tất cả pháp mà gọi tên. Gần, thì như bản thân mỗi người. Xa, thì như pháp giới ở mười phương. Nhỏ, thì như một vi trần. Lớn, thì như toàn quả địa cầu.


Pháp, tuy phủ khắp tất cả, nhưng tướng chân thật của pháp, tất cả chúng sinh do mê mà không biết, chẳng thể nhận được thực tướng của pháp thanh tịnh. Nhân đó mà tâm khởi điên đảo chấp trước.  


Người có thể tỉnh biết như thật, gọi là Phật, cũng gọi là Phật đà hay Phù đồ, tức là giác vậy.
Giác, là A-nậu-đa-la-tam miệu-tam Bồ-đề, đây gọi là Biến chánh giác vô thượng.
Giác nhân, là người tương ưng với thật tướng như như của vạn pháp. Nhơn nơi pháp đó mà như thật tỉnh biết các pháp. Cho nên, chỉ có Phật cùng Phật mới được chỗ rốt ráo.    


Tất cả chúng sinh mê hoặc điên đảo từ vô thỉ. Nay dùng giác pháp của Phật khai thị, khiến chúng sinh nghe mà ngộ nhập. Tại thế giới này, hiện thân ứng hóa, vì khai thị cho chúng sinh mà phương tiện thuyết tam tạng và mười hai bộ kinh, gọi là Phật pháp. Kinh Lăng Nghiêm cũng là một bộ kinh, do Phật tùy thuận chúng sinh, ứng cơ thuyết pháp mà khai thị cho họ. Phật đã hiện thân ở nhân gian mà thuyết pháp. Nhân loại là một loại chúng sinh. Nay lấy nhân loại đại diện cho tất cả chúng sinh.   


Động lực căn bản của chúng sinh là ý dục. Ý dục, là một loại tác dụng tinh thần mang khuynh hướng mong muốn hòa hợp. Nguyên nhân khiến nhân loại cùng với tất cả chúng sinh của họ tương tục chẳng dứt, sinh trưởng, phát triển, là do ý dục phát động. Kinh Pháp Hoa nói: “Ba cõi xuất hiện, tham dục là gốc”. Kinh A-hàm nói: “Hữu tình trong ba cõi đều nhờ thực mà trụ”. Trụ, là nghĩa sinh tồn tương tục. Thực, phân thành bốn loại là đoàn thực, xúc thực, tư thực và thức thực. Đoàn thực và xúc thực thì thu nạp sáu trần, cấp dưỡng thân mạng. Đoạn thực, là như mỗi ngày thu nạp thức ăn. Xúc thực, chỉ cho áo quần để mặc, phòng ốc để ở, những gì được thấy, được nghe v.v… Vì thế, y phục, thức ăn, chỗ ở v.v… đều bao gồm trong một chữ thực. Tư thực, là có hy vọng ở tương lai, hướng tới trước mà tiến, như trong lúc tuyệt vọng, vẫn một mực kiên trì, can đảm tiến lên. Đó là nghĩa “duy trì sinh mạng”. Thức thực, chỉ cho thức thứ tám thu nạp bảy thức ngoài, huân thành các chủng tử nghiệp. Đó là nghĩa “duy trì thân mạng tương tục chẳng dứt”. Chúng sinh ở cõi Dục không lìa đoàn thực. Phi phi tưởng thiên, một loại thiền định rất sâu của cõi Vô sắc, thân mạng tương tục, chẳng lìa thức thực. Cho nên, chúng sinh trong ba cõi đều y nơi thực mà tồn tại. Kinh Viên Giác nói: “Chúng sinh cõi Dục đồng lấy dâm dục mà chỉnh tính mệnh”. Dục, bao gồm ngũ dục. Do “sắc, thanh, hương, vị, xúc” hoặc “tài, sắc, danh, thực, thùy” mà khởi dục.

Chúng sinh hữu tình và khí giới vô tình trong cõi Dục đều do hai tánh âm dương kết hợp mà sinh tồn. Như vật chất, theo khoa học mà nói thì điện tử là do điện âm xoay quanh hạch dương mà thành nguyên tử. Với chúng sinh hữu tình thì càng thêm sáng tỏ. Do cha mẹ hòa hợp mà thành thân mệnh, sinh mệnh tương tục. Phải do hai tánh hòa hợp mà thành tánh âm hoặc dương, rồi sau lại tìm cầu hòa hợp. Từ trái nghịch đến cộng hợp. Từ cộng hợp đến trái nghịch. Cho nên đặc tính của cõi Dục là nương nơi dâm dục. Dâm dục cũng là một loại ý dục, là một loại dục của nhân loại. Nhân loại khi vừa sinh ra, đã có ý dục nam nữ, ăn uống. Chúng sinh ở cõi Dục nhờ vào thức ăn và sắc mà sinh mạng được tương tục, chẳng dứt tạo tác cùng hưởng thụ.

Cõi Dục này, đối với việc phát triển hay ngăn dứt ý dục của người đời, thánh hiền hào kiệt trong và ngoài nước chủ trương chẳng đồng.

1/ Thuyết Túng dục: Đối với ý dục, văn hóa Tây phương thời cận đại tha hồ phổ biến, càng không cấm chỉ. Phát triển và thỏa mãn ý dục đến mức có thể. Nên rồi chinh phục tự nhiên, sáng tạo và sản xuất vật chất, văn minh.  


2/ Thuyết Tiết dục
:
Nho gia của Trung Quốc và hiền triết ở các nước, đa phần đều không chủ trương buông lung các dục, cần đặt nó trong hạn mức nhất định, thực hiện tiết chế, không để quá mức.  


3/ Thuyết Tuyệt dục
: Đạo gia và một bộ phận thuộc Tông giáo của Trung Quốc cùng một số luận phái Ấn độ v.v… tu thiền định, cầu giải thoát, nhận ra ý dục của nhân sinh là căn bản khiến con người không thể an ổn, nên đối với ý dục, chủ trương dứt hẳn, vượt thoát. Cơ bản là không thu nạp ngũ dục như sắc, thực v.v… siêu vượt cõi Dục. Tu cái định của cõi trời Sắc và Vô sắc, đạt cái định Vô tưởng hay Phi phi tưởng định. Trong Phật giáo, pháp của hai thừa Thanh văn và Duyên giác siêu xuất ba cõi, dứt hẳn ý dục, chứng vô sinh, nhập Niết-bàn, cũng thuộc về thuyết Tuyệt dục này. 
     

Theo Phật pháp Đại thừa, với các dục thấp hèn mang tính ô nhiễm thì cần phải hàng phục và trừ diệt. Buông lung theo các dục thấp hèn, ắt là tai họa chẳng nhỏ, nên trừ ác cốt phải tận. Cái dục vô lậu thanh tịnh thù thắng cũng đồng là ý dục, nhưng nếu tiết chế cái dục thù thắng đó thì lại gây trở ngại cho sự phát triển hướng thượng, nên cần hướng dẫn mở rộng. Chỉ có Phật pháp Đại thừa mới hàng phục trừ diệt cái dục thấp hèn, phát khởi được cái dục thù thắng. Vì là bát-nhã, đại bi và đại nguyện của pháp thân.    


Kẻ tu hành, phát loại tín gì, thú hướng thế nào, chỗ hành, chỗ đến, ở địa vị nào mà thứ lớp hàng phục trừ diệt cái dục thấp hèn để phát được cái dục thù thắng? Từ Bồ-tát hạnh đến khi thành Phật, có đoạn đức, trí đức, nhân đức. Đoạn đức, là do hàng phục trừ diệt cái dục thấp hèn mà được. Trí và nhân đức là do phát được cái dục thù thắng mà thành. Do đây mà có phần duyên khởi của kinh Lăng Nghiêm.


Người đương cơ của kinh Lăng Nghiêm là tôn giả A-nan-đà, một đệ tử của Phật, đa văn bậc nhất, phát tâm xuất gia, giữ giới Tỷ-kheo, cầu quả A-la-hán trong tứ quả Sa-môn, hạng vị đó chưa phát tâm Bồ-đề và bi nguyện to lớn của Đại thừa.  


Kinh nói: “Một mình trên đường về, hôm ấy không có người cúng dường, A-nan bưng bình bát vào thành theo thứ tự khất thực”.  Lúc ấy, vì A-nan chưa chứng thánh quả, đi khất thực nuôi thân, do có túc duyên mà gặp Ma-đăng-già. Kinh nói: “Đi qua nhà thổ, gặp đại ảo thuật Ma-đăng-già dùng chú Ta-tì-ca-la tiên phạm thiên bắt vào nhà thổ, thân dâm được vuốt ve sắp hoại giới thể”. Mẹ của Ma-đăng-già có chú thuật làm mê hoặc tính người. Lúc A-nan gặp khổ nạn chẳng thể tự cứu, nương lực đọc chú của Phật, Bồ-tát Văn-thù-sư-lợi đến cứu thoát, đồng thời dẫn Ma-đăng-già về xuất gia tu hành.       


Chúng sinh sinh tử luân hồi, duyên với thực dục và sắc dục, nên người mới tu dễ rơi vào các nạn đó. Cần nương uy lực không thể nghĩ bàn của Phật pháp Đại thừa mà cứu hộ. Chính chỗ này mà có phần duyên khởi của kinh Lăng Nghiêm. Để rõ Tiểu thừa không lực, tự cứu chẳng xong, nếu chẳng y theo uy đức của Đại thừa, lấy đó cứu hộ thì chẳng thể được. Để hàng phục chướng nạn của thực dục và sắc dục thấp hèn mà nương tâm Bồ-đề và Tứ hoằng thệ, phát triển đại nguyện, đại dục. Cho nên, khi A-nan thoát khổ nạn, liền khóc lóc, cầu xin công đức tu hành thiền định của pháp Đại thừa. A-nan nghe pháp khai ngộ, liền nói:


Nguyện nay đắc quả thành Bảo vương

Độ lại hằng sa chúng như vậy

Mang thâm tâm hầu vô số cõi   

Đó gọi là đền báo Phật ân  


Cúi xin Thế Tôn chứng minh cho

Ngũ trược ác thế thề vào trước

Nếu một chúng sinh chưa thành Phật

Quyết chẳng ở đây nhập Niết-bàn


Đại hùng đại lực đại từ bi 

Nguyện trừ kỹ các hoặc vi tế 

Khiến con sớm chứng Vô thượng giác

Ở mười phương giới ngồi đạo tràng


Y theo pháp sinh tử tương tục của cõi Dục, thân tâm đều không trong sạch. Nhất niệm trí tuệ tương ưng với sinh không và pháp không của Đại thừa, tất cả các dục thấp hèn đều được hàng phục. Pháp thân chân như hiện tiền, liền phát cái gọi là Đại thừa thắng dục.     

Lấy việc “hàng phục trừ diệt các dục thấp hèn mà phát cho được cái dục thù thắng” nói trên làm duyên khởi cho toàn kinh, mới có phần diễn giải văn kinh, trước sau là 7 cuốn.    
 

II. PHẬT PHÁP VÀ SỰ BIẾN HIỆN CỦA VŨ TRỤ


Chẳng phải do sắc tập, chẳng phải do thần tạo, chẳng phải từ không ra.

Tâm mê thì nghiệp buộc. Tâm ngộ, vượt suy lường.

Do đây mà hiển thực tướng của Lăng Nghiêm.  


1/ Sắc tập:

Sắc, nếu cho đó là vật chất, thì nghĩa chưa rõ bằng nói tứ đại, ngũ căn, ngũ trần. Các thứ này theo Phật điển gọi là sắc pháp. Các học gia Ấn Độ và Hy Lạp thời cổ đại thì nói vạn vật do gió, tức do không khí mà thành. Hoặc nói vạn vật do nước mà thành, do lửa mà thành, do đất mà thành. Hoặc nói do tứ đại hợp thành. Trung Quốc thì nói do ngũ hành mà thành. Các nhà khoa học hiện đại thì nói hiện tượng tinh thần thuộc về tâm lý, thể hữu cơ phát sinh từ sinh lý. Thể hữu cơ thuộc sinh lý. Vật chất do nguyên tố hợp thành là từ thể vô cơ. Theo khía cạnh hóa học mà phân tích thì vạn vật chẳng qua là do 89 loại nguyên tố vật chất mà thành. Từ nguyên tố vật chất phân thành phân tử, từ phân tử phân thành nguyên tử, nguyên tử lại phân thành điện tử. Nên vạn vật vũ trụ là do sắc pháp tập hợp mà thành.

2/ Thần tạo: Bà-la-môn giáo chấp nhận thế giới vạn vật là do Đại Phạm Thiên hoặc Đại Tự Tại Thiên sáng tạo và làm chủ tể. Nghĩa là, tất cả đều do thần chi phối.


3/ Từ không ra: Vạn vật xuất hiện từ “hữu”. “Hữu” xuất hiện từ “vô”. Hư vô là gốc của Đạo. Hư vô là căn nguyên xuất sinh vạn hữu. Như các Đạo gia ở Trung Quốc, tại Ấn Độ cũng có ngoại đạo hư vô. Gốc của vạn vật quy về không.


Trên đã liệt kê các loại học thuyết (ly, hợp, lẫn, tổng, phi thường, phức tạp) được cho là đại yếu, tạm phân thành ba loại trên mà nói.       


Như đã nói trên, vũ trụ biến hiện dường như có thể tướng nhất định với giới hạn không thể vượt qua. Kỳ thật, chúng sinh trong ba cõi sinh tử lưu chuyển vô thủy, vô minh, mê hoặc, đảo điên, khởi nghiệp phiền não, được báo phần đoạn, mà có tất cả các sai biệt như lớn, nhỏ, mình, người v.v… Kinh nói: “Tất cả chúng sinh, từ vô thủy đến nay mê mình làm vật, lạc mất bản tâm, bị vật xoay chuyển, nên ở trong đó thấy lớn, thấy nhỏ. Nếu hay chuyển vật thì đồng Như Lai, thân tâm tròn sáng, chẳng động đạo tràng, trên đầu mảy lông thâu tóm mười phương quốc độ”. Nhân vì tâm mê nên chân tánh mà Phật cùng chúng sinh vốn bình đẳng không hai bị mê mất, nghiệp quả tương tục, khởi mọi thứ điên đảo phiền não, tạo mọi thứ nghiệp. Tâm mê nghiệp buộc mà thành thế giới và các loại chúng sinh. Tâm ngộ thì tất cả thế giới, chúng sinh, nghiệp quả, hạn lượng ngay đó vượt thoát. Tất cả chúng sinh đồng với pháp thân chư Phật. Thế giới và chúng sinh hiện có là tịnh độ của chư Phật. Vũ trụ biến hiện đại khái cũng như vậy. Kinh nói: “Chân tâm bảo giác thảy đều đầy đủ, nhưng ta ấn ngón tay thì hải ấn phát quang, ông vừa móng tâm, trần lao liền hiện khởi”. Chân tâm bảo giác đầy đủ vô lượng công đức thanh tịnh trang nghiêm, mê hoặc điên đảo chưa hết thì không thể tự tại, nên kinh nói: “Nghi hoặc tiêu trừ, tâm ngộ thật tướng”.           


III. HẠNH MÔN VÀ VẤN ĐỀ THIỀN
&MẬT NÓI TRONG KINH LĂNG NGHIÊM


 

Ngay các pháp mà thấu thông pháp tánh

Ngay gai định mà thành tựu tánh định

Lấy luật nghi thanh tịnh làm cơ sở

Lấy việc tụng trì mật chú làm sự phù trợ


Đích yếu chủ chốt nhất của kinh Lăng Nghiêm chính là hạnh môn được đề cập trong kinh. A-nan gặp nạn Ma-đăng-già được Phật đọc chú độ thoát. Đến cuốn thượng quyển thứ 7 của bản kinh, A-nan lại thỉnh Phật thuyết chú. Khi Phật thuyết chú, trên đỉnh đầu phóng quang, nơi hào quang hiện Phật. Vì công đức tụng chú như vậy mà từ xưa đến nay không ít người cho Lăng Nghiêm thuộc Mật tông. Thế nhưng quán sát toàn bộ nghĩa lý mạch lạc của kinh Lăng Nghiêm, tứ chỗ làm rõ lý cho đến việc tu hành và chứng quả, thì phải đưa kinh trở về Thiền tông mới tương đối chính xác. Hơn một ngàn năm trở lại đây, Lăng Nghiêm rất phổ biến trong Thiền tông. Chưa kể trong kinh còn lấy luật nghi thanh tịnh làm nền tảng, lấy việc trì tụng chú làm phụ trợ, còn hạnh chính là Phản văn tam muội. Nếu chỉ thuần lấy chú nghi làm chính thì chẳng tương ưng. Thực ra, chỉ có pháp môn tu hành của Thiền tông là gần gũi nhất. Theo ý nghĩa của kinh mà quán xét, do việc cứu nạn Ma-đăng-già mà phát khởi việc chế phục cái dục thấp hèn, phát được cái dục thù thắng vượt khỏi ba cõi của Nhị thừa, từ chỗ làm rõ lý đến hạnh tu chính đều hợp với Thiền tông. Nếu cho đó là phương tiên tu đại bi của Mật tông, sử dụng tham, sân, si để hành Tứ nhiếp pháp thì chẳng tương ưng. Đây là quán xét hạnh môn của Lăng Nghiêm ở mặt tổng tướng.


Từ năm ấm, mười hai xứ, mười tám giới cho đến bảy đại rõ ràng đều là diệu tánh chân như. Y chân tánh này, do mê hoặc điên đảo mà thành sáu phàm lưu chuyển, do giác ngộ thấu rõ mà thành bốn thánh giải thoát. Tất cả pháp thế gian và xuất thế gian đều y nơi diệu tánh chân như, hoặc mê, hoặc ngộ mà có. Mê thì phiền não sinh tử. Ngộ thì Niết-bàn giải thoát. Vì thế, tất cả pháp từ xưa đến nay đều là diệu tánh chân như. Ngay nơi các pháp mà thông đạt pháp tánh. Nếu một niệm trí tuệ tương ưng thì vô minh, phiền não, phân biệt ngay đó sạch hết. Phàm phu chúng sinh chẳng lìa pháp năm ấm, mười hai xứ, mười tám giới, bảy đại. Mỗi mỗi pháp tức là pháp thân Như Lai. Quán xét như thế, y nơi từng pháp, từng môn mà nhập đạo, mà giải thoát tất cả.                


Tôn giả A-nan đa văn, tập quán còn năng lực, dễ khởi phân biệt. Quyển thứ 4 của bản kinh, A-nan đã nhận được sự chỉ dạy của Như Lai, vẫn còn tự thấy mình như kẻ lang thang, hốt nhiên được Thiên Vương ban cho ngôi nhà đẹp, nhưng chẳng thể thấy cửa để vào. Như Lai vì người mà dạy hai loại nghĩa quyết định: Chúng sinh tứ đại ngũ trược trong thế giới này, muốn phát tâm Bồ-đề, tu hạnh Bồ-tát, để cái tâm ở nhân địa đồng với cái giác ở quả địa thì cần y nơi 'tâm không sinh diệt' mà tạo tâm nhân địa. Cái tâm thánh phàm bình đẳng không hai này mới có thể cho quả địa giác bình đẳng không hai. Y đó mà phát khởi và thú hướng Bồ-đề, kiên cố chẳng hoại. Trước, nói rõ lý thật tướng của các pháp. Về sau, tăng tu thiền định, chứng được định ích, đối trị định bệnh. Tất cả đều y đó làm nền tảng.            


Từ sáu căn mà thuyết minh sáu trần, sáu thức và mười tám giới. Hiển rõ công đức sâu, cạn, rộng hẹp của sáu căn. Căn tai, căn lưỡi, căn ý thì công đức đầy đủ. Căn mắt, căn mũi, căn thân thì công đức kém khuyết. Nhờ đó mới biết chọn lựa, nương vào một loại pháp nào để tu. Thánh phàm trong pháp giới y nơi sáu căn, lấy đó làm căn bản. Y nơi căn đầy đủ tu hạnh viên thông so với việc y nơi căn không đầy đủ, một ngày ngang với một kiếp. Muốn y nơi sáu căn, tìm một thứ tối viên thông để tu, thì lựa ra căn tai. Ngay nơi tứ đại và ngũ trược mà thấy cái tánh không sinh diệt. Nương cái tánh không sinh diệt đó làm tâm nhân địa. Đó là căn bản thứ nhất. Kế, phải rõ căn bản của tất cả sinh tử phiền não cũng ở tại sáu căn. Muốn nắm được chỗ tu hành thì lựa ra căn tai lấy đó làm môn tu hành viên thông. Mười phương Như Lai y một môn này mà thâm nhập, chứng Vô sinh nhẫn, được đại giải thoát. Kinh nói: “Ông nay muốn khiến cái thấy, nghe, hiểu, biết của mình về lâu xa khế hợp với bốn đức thường, lạc, ngã, tịnh của Như Lai thì trước cần phải lọc ra cội gốc của sinh tử, y nơi 'tánh không sinh diệt' vắng lặng trùm khắp mà thành tựu”. Cũng nói: “Ông đối với mười hai tướng hữu vi động-tĩnh, hợp-ly, định-chuyển [1], thông-bít, sinh-diệt, sáng-tối, chỉ cần không theo. Tùy chọn một căn, hàng phục và giải thoát sự chấp dính bên trong, thuận chân về nguồn, phát tánh sáng diệu sẵn có. Diệu tánh phát sáng thì năm chấp dính còn lại theo đó mà mất, giải thoát viên mãn. Chẳng do tiền trần mà khởi thấy biết thì cái sáng chẳng theo căn, chỉ gá nơi căn mà phát sáng, do đây sáu căn có thể dùng thay lẫn nhau”. Phật và Bồ-tát ở mười phương, y nơi pháp mười tám giới này đều có thể lấy đó làm pháp môn ngộ nhập.                         


Trên đại điện chùa tôi, có chưng bày chư thánh được căn viên thông trong kinh Lăng Nghiêm, hai bên là 24 vị, tính cả Quán Âm ở giữa là 25 vị. Từ Kiều Trần Như, theo âm thanh ngộ nhập được thành A-la-hán, cho đến Đại Thế Chí, Di-lặc, theo căn đại, thức đại mà thấu đạt pháp tánh, nhập Vô sanh nhẫn. Để tu thiền định, Văn-thù-sư-lợi bèn chọn môn Nhĩ căn viên thông của Bồ-tát Quán Âm, là hợp cơ nhất. Từ nhĩ căn thấu đạt tánh vô sinh của pháp. Tuy chúng sinh tâm mê nghiệp buộc mà nhĩ căn khi ngủ vẫn chẳng mù mờ. Kinh nói: “Người ấy khi đang chiêm bao, đâu nhớ các thứ động, tĩnh, đóng, mở, thông, bít. Tuy ngủ say mà tánh nghe không mù mờ. Dù cho hình hài ông có tiêu tan,  mệnh quang dời đổi, tánh nghe này làm sao vì ông mà tiêu mất?” Cho nên, nghĩa thông thường của viên thông là 'tối đầy đủ'.      


Tam-ma-địa, đây gọi là “định”, cũng gọi là “tam muội”, dịch thẳng là “đẳng trì”. Bình đẳng nhậm trì nhiếp phục tâm phan duyên sáu trần để đạt định tâm. Dựa vào pháp “phản văn” mà tu thiền định thì dễ lìa tán loạn. Định tâm thành tựu thì chẳng nhập sắc, thanh, hương, vị, xúc, chẳng duyên năm trần, chẳng khởi năm thức, định tâm tương ưng tại ý thức, chuyên chú chẳng loạn. Nếu đạt được chân thì tâm chánh định thành tựu. Đi, đứng, nằm, ngồi thường trong thiền định. Song tu thiền định mà nắm được công phu trong tay là nằm ở việc tĩnh tọa. Ngồi thì có thể an ổn điều hòa. Nhãn quang đóng, cắt cảnh trước mắt. Tai, lưỡi dừng phân tích hương, vị. Thân tâm điều hòa thì các xúc giác như lạnh, nóng, nặng, nhẹ, đói, no cũng chẳng khởi. Lúc đó thứ khó lìa nhất là âm thanh, đối tượng của tai. Kinh luận nói: Âm thanh là cái gai cứng, nếu chích vào thịt của thân sẽ khiến đau đớn, bất an. Âm thanh cũng là cái gai chích vào định tâm, khiến tâm chẳng an ổn, định chẳng thành tương tục lâu dài. Cho nên, khi chỉ tịnh thì đánh bản để âm thanh dừng yên, muốn rời khỏi tịnh cũng dùng tiếng khánh hay tiếng bản.


Xưa, ở tỉnh Tứ Xuyên, gió thổi ngã một cây đại thụ, trong có một Tăng nhân đang nhập định, tợ như chết mà chẳng phải chết, vì chưa dứt hơi ấm. Quan địa phương đưa Tăng nhân về kinh đô, mời đại đức Phật giáo đến cho một pháp xuất định, đại đức bèn kề tai Tăng nhân đánh khánh, Tăng từ từ xuất định. Có thể thấy, định tâm chẳng được kiên trụ, chẳng dễ tương tục mà nghe tiếng là then chốt rất lớn, rất sâu. Nghe tiếng khiến từ định tâm khởi tán loạn phân biệt. Cho nên, tu thiền định, sau khi thân tâm điều hòa, nương nơi “nhĩ căn phản văn”, lấy đó làm phương tiện tối thắng dừng tán loạn.                     


Kinh nói: “Đầu tiên ở nơi cái nghe, nhập lưu vong sở, sở nhập đã tịch, hai tướng động tĩnh rõ ràng chẳng sinh. Như vậy dần dần tăng tiến, nghe và sở nghe đều dứt, chỗ dứt cái nghe cũng chẳng trụ, giác và sở giác đều không, không và giác cực viên mãn, không và sở không đều diệt. Sinh diệt đã diệt, tịch diệt hiện tiền, hốt nhiên siêu việt thế gian và xuất thế gian”. Tu trì thế nào? Là ngay nơi cái nghe, nhập dòng quên sở, ngược dòng nghe để quay lại cái nghe. Sở nghe mất thì năng nghe cũng chẳng thể. Phản văn, là xoay cái nghe lại để nghe diệu tánh chân như của Như Lai tạng, thì căn nghe dung biến vào cảnh giới nhân không. Thấy, nghe, hiểu, biết của sáu căn dung biến thành một thể diệu giác viên minh, chứng Niết-bàn, là sinh không chân như. Tiến đến giác và sở giác đều không, ngộ nhập pháp không, tất cả đều không. Không và sở không đều diệt thì “cùng với không” chẳng sinh. Tất cả sinh diệt đối đãi đã có đều vượt thoát, tịch diệt hiện tiền, siêu việt thế gian và xuất thế gian, pháp pháp đều thành giải thoát, trần trần đều chứng Bồ-đề. Đây là từ 'Nhĩ căn phản văn' mà vào tam-ma-địa. Nên kinh nói: “Xoay lại, nghe và tiếng đều giải thoát thì năng thoát dục gọi là gì? Một căn đã về nguồn, sáu căn thành giải thoát”.      


Lại nữa, kinh nói: “Muốn nhiếp tâm vào tam-ma-địa, vậy làm thế nào để an lập đạo tràng, xa lìa ma sự?”. Muốn vậy, trước phải lấy việc thanh tịnh bốn thứ căn bản (dâm, sát, trộm và dối) làm cơ sở quyết định cho việc tu nhĩ căn viên thông. Kinh nói: “Trước cần phải trì bốn loại luật nghi trong như băng tuyết thì chẳng thể tự sinh tất cả cành lá. Ba thứ thuộc tâm, bốn thứ thuộc khẩu nhất định không có nhân để sinh”.         


Nếu có người thọ giới chưa đầy đủ, trì giới chưa đủ thanh tịnh, nhân có túc tập chưa thể trừ diệt thì nên lấy việc trì tụng mật chú làm phụ trợ. Kinh nói: “Nếu có túc tập chẳng thể diệt trừ thì ông dạy người đó nhất tâm tụng chú 'Phật đảnh quanh minh ma-ha-tát đát-đa-bàn đát-la vô thượng' của ta”. A-nan nếu không có túc tập, chẳng rơi vào cái nạn Ma-đăng-già, ắt việc trì giới tu định của ông chẳng cần đến chú cứu hộ của Phật.


Từ trên đến đây, làm sáng tỏ môn “Ngộ diệu tánh chân như mà tu hạnh viên thông”.
 

IV. QUẢ VỊ VÀ VẤN ĐỀ ĐỐN TIỆM NÓI TRONG KINH LĂNG NGHIÊM


Từ điên đảo loạn tưởng, chỉ ra 12 loại sinh

Y theo định Thủ Lăng Nghiêm mà hiển bày 57 vị

Do hạnh tăng tiến mà trải dần qua các vị

Được tâm kim cang mà đốn khởi các vị


Nếu chẳng rõ quả vị của Lăng Nghiêm thì khởi tăng thượng mạn, chẳng những không được lợi ích, trái lại còn dễ bị đọa. Kiến tánh thành Phật là pháp môn đốn ngộ, nên không có tiệm thứ (thứ lớp), ngay nơi sự mà tỏ lý, không gì là không đốn. Nếu ngay nơi lý mà tỏ sự thì có thứ lớp (tiệm thứ): Trong đốn có tiệm, là trong đốn ngộ có tu chứng tiệm thứ. Trong tiệm có đốn, là trong tiệm tu có giác ngộ đốn phát.           


Chúng sinh điên đảo loạn tưởng, từ vô thủy đến nay mê vọng chẳng tỉnh nên có noãn sinh, thai sinh, thấp sinh, hóa sinh, hữu sắc, vô sắc, hữu tưởng, vô tưởng, hoặc phi hữu sắc, hoặc phi vô sắc, hoặc phi hữu tưởng, hoặc phi vô tưởng, có 12 loại sinh như thế. Kinh nói: “Trong mỗi một loại chúng sinh như thế, đều đủ 12 thứ điên đảo. Giống như dụi mắt thì hoa đốm phát sinh. Điên đảo thì minh tâm diệu viên chân tịnh đầy đủ loạn tưởng hư vọng như vậy”. Vì muốn vượt thoát thế giới chúng sinh, chứng được Niết-bàn, thành tựu Bồ-đề mà mở bày 57 giai vị: Càn huệ địa, Thập tín, Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng, Tứ gia hạnh, Thập địa, Đẳng giác, Diệu giác.


Vì sao gọi là ba loại tiệm thứ? Kinh nói: “Một, là tu tập trừ trợ nhân. Hai, là chân tu hiển chánh tánh. Ba, là tăng tiến không theo hiện nghiệp”.

1/ Tu tập trừ trợ nhân: là đoạn trừ ngũ tân. Nay thì thuốc lá, rượu bia, cờ bạc cũng thuộc trợ nhân, đều cần phải trừ.

2/ Chân tu hiển chánh tánh: là nghiêm trì giới luật thanh tịnh.

3/ Tăng tiến không theo hiện nghiệp: là xoay cái thấy thấy tự tánh, xoay cái nghe nghe tự tánh, thủ hộ căn môn, không để sáu căn phóng dật theo sáu trần. Nhân giới sanh định, là ngược dòng sáu căn, thuận một thể giác. Trì giới tánh của sáu căn, thì ba thứ thuộc thân, bốn thứ thuộc khẩu tự nhiên thanh tịnh. Kinh nói: “Diệu viên bình đẳng được đại an ổn, tất cả mật viên tịnh diệu của Như Lai đều hiện trong đó, người này liền được Vô sinh pháp nhẫn. Từ việc tiệm tu này, tùy chỗ phát hạnh mà an lập thánh vị”.


Tâm kim cang, là Vô gián đạo trước khi thành Phật. Nếu một vị nhiếp tất cả vị thì trên đường Bồ-đề chân thật, mỗi một vị đầy đủ 55 vị. Nơi tâm kim cang ấy, trải qua trở lại 55 vị, đều là an lập vị thứ trong Thủ Lăng Nghiêm định, là pháp môn ngay tiệm mà đốn. Kinh nói: “Từ Càn huệ địa đến Đẳng giác rồi, giác đó mới được sơ Càn huệ địa trong tâm kim cang, như thế mà đơn kép trùng trùng mười hai vị [2] mới được Diệu giác, thành đạo vô thượng”.  

 

V. TRỪ CHƯỚNG TRONG KINH LĂNG NGHIÊM

 

    

Si, ái cùng bảy đường chuyển

Mạn, kiến cùng ngũ ấm ma

Nói nghiệp báo trừ giới chướng

Luận tâm cảnh trừ định chướng 


Người mới học thiền định khi được định cảnh, như bất chợt đến vùng sa mạc, một khối sa mạc rộng lớn không có giới hạn, trước nay chưa từng trải qua, tuyệt chẳng phải là đất cảnh nhân gian tầm thường. Tới chỗ này thời dễ khởi mê hoặc. Theo ngũ ấm mà thứ lớp hiện phát cảnh của nó. Từ sắc ấm cảnh giới hiện, đến thức ấm cảnh giới dừng, đều là tác dụng phụ do định tâm hiện khởi. Mê lầm mà cho là cảnh giới thánh thì đó là tà ma. Cho nên trừ cái chướng của định là thiết yếu, chẳng thể coi thường. Chẳng sinh tà kiến thì tự hay trừ khử ma chướng. Phải quán tất cả pháp vốn là Như Lai tạng diệu tánh chân như, thì tất cả chướng không từ đâu phát sinh, không cần phải đối trị. Nếu tâm mê điên đảo thì thành căn bản của chướng. Si ái là tham si. Kinh nói: “Như vậy địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, người, cùng với thần tiên, trời cho đến A-tu-la, bảy đường đó xét cho kỹ đều là các tướng hữu vi mê tối”. Do si ái mà có bảy đường lưu chuyển là địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, người, tiên, trời, A-tu-la. Muốn thoát khỏi bảy đường lưu chuyển, cần phải trì tịnh giới, ngăn trừ tham si, và quán trở lại tự tánh thanh tịnh.              

Ngũ ấm ma là do khinh mạn mà hiện khởi. Tăng thượng mạn được ít cho là đủ, tự cho là chứng thánh quả mới chiêu cảm ma sự. Nơi định tâm khởi cái thấy bất chính như đoạn, thường v.v… mà gia nhập ngoại đạo. Kinh nói: “Ma cảnh hiện tiền, ông chẳng thể biết, tẩy tâm không chánh, lạc vào tà kiến. Lại ở trong đó được ít cho là đủ, như Tỷ-kheo Vô Văn được đệ tứ thiền, vọng nói chứng thánh, liền đọa vào ngục A-tỳ”. Muốn trừ ngũ ấm ma thì nên tiêu trừ cái thấy bất chánh và tăng thượng mạn. Tu định tâm là chủ nhân. Chủ nhân nếu mê, khách tà ma liền được dịp. Tâm có không thì cảnh có không [3], giác ngộ không lầm, thường không trở ngại. Kinh nói: “Do nơi tâm ông, ngũ ấm là chủ nhân, chủ nhân mê thì khách được thuận tiện. Ngay trong thiền na, giác ngộ không lầm thì ma sự kia không làm gì được ông”.

Muốn thoát khỏi nghiệp báo luân hồi của bảy đường, cần trừ ba hoặc là sát, đạo, dâm. Kinh nói: “Muốn được Bồ-đề, cần phải trừ ba hoặc. Ba hoặc không hết mà được thần thông, đều là công dụng hữu vi của thế gian”. Muốn thành tựu Định Tuệ, chủ yếu là phải có Chỉ Quán và chẳng khởi tăng thượng mạn. Kinh nói: “Ma cảnh hiện tiền, ông hay am tường, cấu tâm tẩy trừ, chẳng lạc tà kiến”.  
                     

VI. BIỆN HOẶC TRONG KINH LĂNG NGHIÊM

 

A. CÁC BỘ GIÁO LÝ


1/ Luận về chân tâm cùng hai thứ căn bản.

2/ Luận về duy căn cùng bảy đại.

3/ Luận về pháp thân cùng mười hai loại sinh.


1/ Luận về chân tâm cùng hai thứ hai căn bản

Kinh nói: “Một là căn bản sinh tử từ vô thủy, đó là tâm phan duyên mà hiện nay ông cùng các chúng sinh lấy đó làm tự tánh. Hai là cái thể Bồ-đề Niết-bàn vốn thanh tịnh từ vô thủy, chính là thức tinh nguyên minh của ông hiện nay hay sinh các duyên mà bị các duyên bỏ quên”. Bị các duyên bỏ quên, là hiểu biết không thể đến. Kinh cũng nói: “Từ vô thủy đến nay sinh tử tương tục đều do không biết chân tâm thường trụ, thể tánh sáng tịnh, mà dùng các vọng tưởng, tưởng này chẳng chân, nên có luân chuyển”. Đây đều là luận về chân tâm, nói vọng để tỏ chân.

Trong toàn bộ kinh, có một tư tưởng trung tâm nhất quán, đó là chân tâm thường trụ. Cho nên, bản kinh lấy chân tâm thường trụ làm nền tảng. Tín giải, là rõ được lý chân tâm thường trụ. Tu hành, là trừ chướng của chân tâm thường trụ. Chứng quả, là chứng cái đức của chân tâm thường trụ.           


2/ Luận về duy căn cùng bảy đại

Đất, nước, lửa, gió gọi là bốn đại. Cùng với không đại và thức đại là sáu đại. Đây kinh đặc biệt thêm căn đại, thành bảy đại. Vì cái thành đó mà có phần triển khai là luận về duy căn. Kinh nói: “Như một căn thấy, thấy khắp pháp giới. Nghe, ngửi, nếm, giác xúc, giác tri, diệu đức trong suốt trùm khắp pháp giới, đầy hết mười phương hư không, không có chỗ nơi”. Cũng nói: “Ông muốn biết cái câu sanh vô minh [4] khiến ông có các căn, luân chuyển sinh tử, chính là sáu căn của ông, hoàn toàn không có vật nào khác. Ông nếu muốn biết Bồ-đề vô thượng khiến ông chóng chứng tâm diệu thường tịch tĩnh giải thoát an lạc cũng là sáu căn của ông, hoàn toàn không có vật nào khác”.


Căn đại cùng với việc tu nhĩ căn viên thông có quan hệ khá mật thiết. Kinh này nói đến căn và thức, so với những gì luận Duy thức nói thì giới hạn của chúng không đồng. Phạm vi của thức nói trong luận Duy thức, sâu và rộng. Còn Lăng Nghiêm nói phạm vi của căn, sâu và rộng. Cho nên luận về duy căn và duy thức có đối lập, là dùng căn nhiếp tất cả pháp.


Tôi, khoảng 10 năm về trước, từng làm ra ba loại duy luận là duy thức, duy căn và duy cảnh. Luận duy căn là chỗ đặc dị của kinh Lăng Nghiêm, dùng căn không dùng thức, vì sáu thức hiện lượng đều nhiếp tại sáu căn.

3/ Luận về pháp thân cùng với 12 loại sinh

Kinh nói: “Nếu diệu tâm chân tịnh diệu minh xưa nay tròn khắp, vậy thì hết thảy cây, cỏ, đất đai, các loài hàm linh máy động vốn nguyên là chân như, đó là chân thể thành Phật của Như Lai. Phật thể chân thật, vì sao lại có các đường địa ngục, ngạ qủi, súc sinh, A-tu-la, người và trời?”. 12 loại sinh bao gồm các vật vô tình như kim, thổ, mộc, thạch, núi, sông, đất đai v.v... Theo đó thì chúng sinh hữu tình luân chuyển trong sinh tử có thể biến thành vô tình. Đây không đồng giáo nghĩa được nói ở các kinh luận khác. Nhưng kinh Lăng Nghiêm đúng là Phật thuyết, chỉ là vì điểm căn cứ có khác mà thôi. Chúng sinh thế giới tức [5] là chân thể thành Phật của Như Lai, ví như toàn biển mà thành sóng, sóng thì khắp tất cả biển. Pháp thân thành hữu tình vô tình thì hữu tình vô tình đều là pháp thân. Kinh nói: "Tình cùng vô tình đều thành Phật đạo”.

B. KHẢO CỨU CÁC BỘ Y CỨ


1/ Xét việc giải thích tên Thủ Lăng Nghiêm cùng các kinh chú.

2/ Kinh nữ Ma-đăng-già và bản kinh

3/ Phiên dịch và lưu truyền bản kinh


1/ Xét việc giải thích tên Thủ Lăng Nghiêm cùng với các kinh chú:

Thủ Lăng Nghiêm, Trung Hoa dịch là “kiện hạnh”. Xưa nay các nhà chú giải kinh này thường dịch là “Kiên cố rốt ráo tất cả sự”. Tất cả sự, là hạnh. Kiên cố rốt ráo, là kiện. Kinh này, nói giản lược là Lăng Nghiêm, nói đầy đủ là Đại Phật Đảnh Như Lai Mật Nhân Tu Chứng Liễu Nghĩa Chư Bồ-tát Vạn Hạnh Thủ Lăng Nghiêm.


Một tên tiếng Trung khác là Ấn Độ Na-lan-đà Đại Đạo Tràng Kinh, từ bộ Quán Đảnh ghi chép ra biệt hạnh. Nghĩa là, kinh này được ghi ra từ bộ Quán Đảnh trong tạng kinh của chùa Na-lan-đà.

Ngoài ra còn có một quyển Phật Thuyết Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội Kinh, do Cưu-ma-la-thập dịch, so với kinh này thì không đồng bản, chỉ chuyên thuyết về thần dụng và công đức của Phật cùng Bồ-tát khi được tam muội này.  


Chú Lăng Nghiêm, đặt cho Tăng chúng tụng vào sáng sớm, thật ra chỉ 10 câu từ sau mấy từ “Đát-điệt-đá” trở đi mới là tâm chú. Còn trước là nghi thức cúng lễ tán tụng, gồm 5 hội: Một, là Tì-lô chân pháp hội. Hai, là Thích tôn ứng hoá hội. Ba, là Quán âm hợp đồng hội. Bốn, là Cương tàng chiết nhiếp hội. Năm, là Văn-thù hoằng truyền hội. Những giải thích tường tận này được ghi ra từ chương 'Chú, trích và giải' của sớ Quán Đảnh.


Một kinh gần đồng với danh nghĩa của kinh chú này, là Đại Phật Đảnh Như Lai Phóng Quang Tất-đát-đa Bát-đát-la Đà-la-ni, do ngài Bất Không dịch, thuộc Tục tạng tập một, trọn bộ bốn quyển. Ngoài ra, còn có kinh Phật Đảnh Đại Bạch Tản Cái Đà-la-ni, do Sa-la-ba dịch; kinh Phật Thuyết Đại Bạch Tản Cái Đà-la-ni, do Nguyên và Chân Trí v.v… dịch. Hai bản kinh có luôn phần nghi thức tụng chú này ở trong Tần-già tạng, bộ đầy đủ sáu cuốn. 


Ngoài ra còn Bạch Tản Cái Đại Phật Đảnh Vương Tối Thắng Vô Tỷ Đại Uy Đức Kim Cang Vô Ngại Đại Đạo Tràng Đà-la-ni Niệm Tụng Pháp Yếu. Cuốn này, trong Tần-già tạng thấy còn bộ một quyển, trong Tục tạng tập một thì ba bộ một quyển. Chỉ thấy Đông Mật ghi ra nghi thức tụng niệm, không rõ người dịch.

2/ Kinh Nữ Ma-đăng-già và bản kinh

Kinh Nữ Ma-đăng-già, hai quyển, do Trúc Luật Đàm và Chi Khiêm người Thiên Trúc đời Ngô dịch. Kinh Xá-đầu Thái Tử Thập Nhị Bát Túc, một quyển, do Trúc Pháp Hộ đời Tây Tấn dịch. Hai kinh này đồng bản mà khác phần dịch, nêu rõ túc duyên giữa A-nan và Ma-đăng-già. Ngoài ra, còn có Phật Thuyết Nữ Ma Đặng Kinh, một trang, đời Hậu Hán, Tam tạng An Thế Cao ở An Tức dịch; Phật thuyết Ma Đặng Nữ Giải Hình Trung Lục Tự Kinh, một trang, thấy ghi vào đời Đông Tấn, không rõ người dịch. Hai kinh này đồng bản mà khác phần dịch, chỉ thuyết A-nan bị khốn được chú của Phật cứu độ.      


3/ Phiên dịch và lưu truyền bản kinh:

Kinh này, dịch xong ngày 23, tháng 5, năm Ất Tỵ, niên hiệu Trung Tông Thần Long đời Đại Đường, do Tam tạng sa môn Bát Thích Mật Đế người Trung Thiên Trúc dịch tại đạo tràng Chế Chỉ ở Quảng Châu. Theo Khai Nguyên Lục thì sa môn Hoài Địch đời Đại Đường ở Quảng Châu dịch lại lần nữa. Bản lưu hành hiện nay, còn phải nói thêm bản của sa-môn Di-già Thích-ca nước Ô Trành dịch ngữ, Phòng Dung ở Thanh Hà chép truyền.


Kinh này được truyền rộng, tương truyền là do Phòng Dung chép kinh dâng lên vua, đang lúc Trung Tông mới lên ngôi, chưa rảnh mà ban hành, thì thiền sư Đại Thông Thần Tú [6], lúc đó đang ở trong đạo tràng, thấy bản tấu, chép ra cho lưu hành ở đất bắc, đồng thời sao lại một bộ mang về chùa Độ Môn ở Kinh Môn. Sa-môn Tuệ Chấn ở Quán Đào, được khoa giải, là người đầu tiên truyền rộng ra. Đến năm thứ 10 Thiên Bảo (Năm 751) có pháp sư Duy, nơi nhà của Phòng Dung, được bản viết tay của ngài, bắt đầu tạo chú sớ. Cũng tương truyền, Mật Đế trước đã từng đến Trung Quốc [7], thấy môn Chỉ Quán của đại sư Trí Giả, cho là hao hao giống Lăng Nghiêm. Trí Giả nhân đó thỉnh dịch để truyền đến Trung Quốc. 


Lăng Nghiêm được truyền rộng với bốn nhà có nguồn gốc sâu xa là Thiền, Thiên Thai, Hiền và Nho.
Sau đời Đường thì đời Tống, Nguyên, Minh, Thanh, không thiếu người hoằng dương Lăng Nghiêm.


. Thiền gia thì có thiền sư Đạo Hiến ở Trường Khánh, thiền sư Trí Giác Vĩnh Minh [8], thiền sư Lặc Đàm Hiểu Nguyệt, Thiền sư Thạch Môn Viên Minh, Thiền sư Ôn Lăng Bảo Thắng, Thiền sư Trung Phong Minh Bản, cùng với Thiên Như và Tử Bá v.v…


. Hiền gia thì có pháp sư Tắc Tư Trung Hoằng Trầm, pháp sư Trưởng Thủy Tử Tuyền, pháp sư Lỗ Sơn Phổ Thái, pháp sư Giao Quang Chân Giám, pháp sư Từ Vân Tục Pháp, pháp sư Đạt Thiên Thông Lý v.v…  


. Thiên Thai gia thì có pháp sư Tắc Cô Sơn Trí Viên, pháp sư Đồng Châu Hoài Thản, pháp sư Thiên Thai U Hoát, pháp sư Linh Phong Ngẫu Ích v.v…


. Nho gia thì có Tắc Vương Giới Phủ giải thích, Trương Vô Tận chú thêm, Tằng Phượng Nghi  thông tông, Tiền Khiêm Ích Mông [9] sao chép v.v…

Pháp sư Không Ấn ở Ngũ Đài Sơn cùng với pháp sư Ngẫu Ích thì dần dà dùng nghĩa của pháp tướng mà nói kinh Lăng Nghiêm.  


Cuối đời Đường trở lại đây, Tam luận thì biến mất mà Duy thức cũng chẳng thịnh, nên ít ai hiểu thấu được kinh này. Có khi cũng dùng nghĩa của các tông đó sớ giải nhưng sơ sài khái lược. Kẻ nông cạn cứ y vào nghĩa của tam luận hoặc Duy thức đó mà sinh ngăn cách, phỉ báng và chống đối.   


 


 

[1] Phần định-chuyển này, kinh Lăng Nghiêm lấy thí dụ về vị-không vị.

[2] Đơn kép trùng trùng 12 vị, Đại sư Hàm Thị giải thích trong Thủ Lăng Nghiêm Kinh Trực Chỉ: Ngài Vân Thê nói: “Mỗi ngôi vị đều có một vị là đơn. Một vị có đủ 12 vị là kép. Lấy đơn chồng lên kép, lấy kép chồng lên đơn, mỗi cái đều có 12”.  

[3] Ý là: Tâm có thì cảnh có. Tâm không thì cảnh không.

[4] Câu sinh, là cùng sinh. Câu sinh vô minh, là loại vô minh khi sinh ra là đã có.

[5] Tức, có nghĩa là ngay đó mà không phải đó. Đây là nói trên mặt hình thức, tướng và thể thấy không đồng, vì tướng thì có mà thể thì không. Nhưng các tướng đó bản chất đều là chân thể thanh tịnh, như vàng làm thành xuyến, thành nhẫn. Xuyến và nhẫn thấy có khác và khác với toàn thể khối vàng, nhưng đều từ vàng làm ra.

[6] Đại Thông, là hiệu vua sắc phong cho ngài Thần Tú.

[7] Mật Đế dịch bản kinh này ở Quảng Châu thời Trung Tông  (lên ngôi 2 lần : một lần vào năm 684. Lần hai, vào năm 705) Cách Thời Trí Giả cả 100 năm. Trí Giả sinh 538 - mất 597. Việc này tương ưng với tích nói trong Lăng Nghiêm: Trí giả cầu kinh Lăng Nghiêm nhưng đến cả 100 năm sau kinh mới đến. Phần sau lại nói “tương truyền Mật Đế từng qua Trung Quốc gặp Trí Giả”, không biết do Mật Đế sống thọ hay là nói hóa thân kiếp trước của ngài.

[8] Trí Giác, hiệu vua Tống ban cho. Vĩnh Minh là tên chùa. Ngài tên Diên Thọ.

[9] Tiền Khiêm Ích hiệu Mông Tấu, làm quan đời nhà Thanh.


Các tin khác